|| Phong tục tập quán Thứ sáu, 19/07/2013 16:50 GMT+7

Văn Miếu và tín ngưỡng trong văn hóa

Ngày 15-2-2003, tức đúng ngày Tết Nguyên tiêu (rằm Tháng Giêng năm Quý Mùi), một lễ hội thơ đầu tiên ở Việt Nam đã được tổ chức tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Chọn một nơi như Văn Miếu để khai trương và tôn vinh truyền thống yêu văn thơ của dân tộc ta quả là một việc làm có ý nghĩa. Tuy nhiên, nếu trở lại cội nguồn lịch sử xa xưa của Văn Miếu, chúng ta sẽ tìm ra khái niệm này còn ẩn tàng nhiều giá trị về văn hóa - tín ngưỡng làm nên bề dày truyền thống tinh hoa dân tộc Việt Nam.  

quangninh24h van-mieu-va-tin-nguong-trong-van-hoa-news 

Khuê Văn Các

Với một diện tích hơn 54.000 m2, nằm giữa các phố Nguyễn Thái Học, Tôn Đức Thắng, Văn Miếu, Quốc Tử Giám… có thể nói tổng thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám chiếm một diện tích khá rộng so với Kinh thành Thăng Long ngày xưa (vốn chỉ giới hạn trong 4 cửa thành, 5 cửa ô chính sau này). Nhiều người thường hay gọi nơi này một cách ngắn gọn là Văn Miếu hoặc Quốc Tử Giám và cũng nhiều người vẫn nghĩ rằng đây là tên gọi khác nhau của một di tích. Thực ra, Văn Miếu và Quốc Tử Giám là hai công trình kiến trúc được xây dựng với hai mục đích ở hai thời điểm khác nhau. Văn Miếu ra đời năm 1070 còn Quốc Tử Giám thì mãi tới sáu năm sau (1076) mới có. Tuy nhiên, hai công trình này vẫn nằm trong một tổng thể kiến trúc rất hài hòa, ấy là do trước khi xây dựng, Vua Lý Nhân Tông đã trực tiếp xem xét và lên phương án rất kĩ. Hơn nữa, xuất phát từ truyền thống trước đó từ Trung Quốc, từ khi Nho giáo của Khổng Tử ra đời, nhiều Văn Miếu đã được dựng với quy mô và kiểu dáng khá giống nhau, như đều có các khu như Văn Miếu Môn, Đại Trung Môn, Khuê Văn Các, Đại Bái Đường,… Người đi tham quan nơi này ngạc nhiên về sự hài hòa và tôn nghiêm, như cảnh quan nơi đây như hội tụ được mọi tinh hoa của con người và trời đất.

Văn Miếu - chiết tự có nghĩa là "miếu thờ văn". Đây là một tín ngưỡng tôn vinh người sáng lập ra Nho giáo (*) và qua đó đề cao tinh thần học vấn mà ông đề xướng, như coi trọng sự học hành hiểu biết, từ đó coi trọng giá trị người thầy (tôn sư trọng đạo), coi trọng lễ nhạc, thơ ca… Văn: vẻ đẹp, văn chương, văn nho, văn đức, văn đạo, văn sách, tri thức… "Kẻ quân tử học rộng rãi ở văn, ước thúc bằng lễ thì có thể sống không trái đạo nghĩa" (Luận ngữ). Qua bao đời truyền tụng, chữ Văn còn được bồi đắp thêm nhiều nét nghĩa cực kì hàm súc, như một chữ của Thánh hiền, tôn thờ thành Đạo Nghĩa. Do vậy, khu chính của mọi Văn Miếu là Đại Bái Đường, nơi đặt bàn thờ Khổng Tử và được coi là  nơi trang trọng tôn nghiêm nhất. Sách Khổng Tử răn dạy rất kĩ những điều phải tuân thủ mà người quân tử không được phép quên. Nho giáo có thể nói đã thâm nhập sâu vào cuộc sống tinh thần của người Việt và phát huy tính tích cực của nó. Nhà nước phong kiến cũng đã biết tận dụng ưu thế này để cai trị muôn dân. Do vậy, nhà vua cho xây Quốc Tử Giám làm nơi đào tạo nhân tài đất nước. Ta hay gọi nơi này bằng một tên gọi hình tượng là "trường đại học đầu tiên ở Việt Nam". Chính từ khi xây xong Quốc Tử Giám, việc dạy dỗ, đào tạo nhân tài ở nước ta mới đi vào chính quy và tuân thủ các quy tắc nghiêm ngặt của trường quy thi cử phong kiến. Quốc Tử Giám còn là nơi vua học, nơi dạy dỗ cho các con của nhà vua cũng như các bậc quan chức trong triều đình. Từ quan niệm "hiền tài là nguyên khí quốc gia", các triều vua Việt Nam đã liên tục mở các khoa thi lớn để chọn ra các nhân tài. Chỉ tính riêng từ năm 1442 đến 1787 đã mở được 124 khoa thi và chọn ra 2.260 tiến sĩ theo Nguyễn Văn Độ, đã dẫn). Quả là một kì tích. Những rùa đá lớn, nặng hàng tấn, được khắc chi chít trên mình trên tuổi của các vị tiến sĩ đã tạo ra một biểu tượng trang trọng và linh thiêng ở chốn tôn nghiêm này. Hình ảnh Hồ Chủ tịch chăm chú đọc bia Tiến sĩ ở Quốc Tử Giám đã trở thành một hình ảnh vừa hào hùng vừa cảm động. Nó có giá trị như một ngọn cờ vẫy gọi mọi thế hệ cháu con trên con đường học vấn, nguyện đem tài trí của mình phụng sự đất nước.

Giờ đây, sau gần 10 thế kỷ thăng trầm, qua bao năm chiến tranh giặc giã, mặc dù Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã ít nhiều bị mai một, xuống cấp nhưng nơi đây vẫn là một di tích lịch sử văn hóa có một không hai của dân tộc. Nó hàm chứa tất cả những giá trị văn hóa truyền thống của con người Việt Nam từ bao đời nay. Và bây giờ, Văn Miếu trong tâm khảm chúng ta như một biểu trưng mang đậm chất văn hóa được tôn thêm bởi sắc màu tín ngưỡng. Giá trị tinh thần cao quý đến nỗi chúng ta coi đó như một huyền thoại để tôn thờ, là di sản bất diệt của ngàn năm văn hiến. Quả là hai yếu tố văn hóa và tín ngưỡng đã tích hợp, chìm vào trong nhau và lung linh tỏa sáng trong tâm hồn mỗi người Việt Nam, mãi mãi trường tồn cùng lịch sử.

Chú thích

(*) Miếu thờ Khổng Tử (Khổng Miếu) được lập tại nước Lỗ, Trung Quốc, vào năm 478 TCN.

Bình luận