|| Người Hà Nội thanh lịch Thứ 7, 20/07/2013 2:16 GMT+7

Truyền thống yêu nước, hào khí Thăng Long-Hà Nội

Chọn Thăng Long làm thủ đô của toàn quốc là sự sáng suốt của vua nhà Lý. Đây là bước ngoặt lớn trong lịch sử của đất nước: là sự mở đầu cho thời đại độc lập và phồn vinh của con người Việt Nam.

hanoivanhien truyen-thong-yeu-nuoc-hao-khi-thang-long-ha-noi-news

Tiếp bước cha anh lên đường nhập ngũ 

Nhìn lại 1.000 năm nước ta bị nước ngoài chiếm đóng và bị biến thành quận huyện của họ, bao nhiêu cuộc nổi dậy trước sau đều bị dập tắt. Cuộc chiến đấu giành độc lập khi thầm lặng, khi vùng lên đều phải dựa vào sự che chở của nhân tâm và sự an toàn của địa điểm. Nền độc lập được giành lại từ Ngô Quyền nhưng chính dân tộc vẫn còn non yếu. Để tự bảo vệ, người lãnh đạo đất nước không thể chỉ dựa vào lòng dũng cảm mà còn phải dựa vào đất đai hiểm trở để tranh thủ thời gian nhanh chóng nâng cao được sức mạnh của binh cường, quốc phú.

Những thành tựu rực rỡ của các triều đại trước, thực tế đã chuẩn bị những điều kiện cần thiết để Lý Công Uẩn lên làm vua và có đủ thực lực cũng như dũng khí để dời đô. Việc dời đô vì thế không chỉ là sáng kiến của Lý Công Uẩn mà còn thể hiện mộtthời cơ đã được chuẩn bị từ trước, một việc làm thuận với lẽ trời  lòng người.

Về mặt nhân hòa và địa lợi:

Chủ trương dời đô đã được cả triều thần nhanh chóng hưởng ứng: “Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế dài lâu, để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho nhân dân được giàu của, nhiều người, việc lợi như thế, ai dám không theo”.

Việc dời đô đã thực sự đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân.

Bao nhiêu năm nhân dân ta đã chiến đấu gian khổ. Bao nhiêu máu và nước mắt đã từng đổ xuống để giành độc lập thống nhất. Không thể quên được nỗi nhục của ngàn năm mất nước, nhân dân đòi hỏi người lãnh đạo của mình phải nâng cao hơn nữa truyền thống anh hùng, phải nhanh chóng đưa đất nước trở thành hùng mạnh.

Việc dời đô phù hợp với thiên thời, địa lợi, nhân hòa như thế nhất định mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn vươn lên với khí thế hồi sinh của con rồng Việt Nam.

- Vùng đất “địa linh nhân kiệt”:

Ngoài thánh Tản Sơn Tinh, là hai vị thần núi “em” của Người: Cao Sơn và Quý Minh được thờ ở khắp nước, đặc biệt là vùng Nam Hà Nội.

Bên kia Bắc Đuống lại là đền thờ vị bất tử thứ hai, thánh Gióng – Phù Đổng thiên vương - thần Mặt Trời Việt cổ, thần anh hùng thời đại Lý - Trần – Lê - Nguyễn và ngày nay…

Xuôi dòng sông Cái – Bồ Đề - Lô - Nhị, từ Chử Xá – Văn Đức, Gia Lâm đến Đa Hoà, Dạ Trạch, Khoái Châu là những ngôi đền của vịbất tử thứ ba, cặp đôi Chử Đồng Tử - Tiên Dung.

Khu vực Thăng Long – Hà Nội, có những “đạo quán” nổi tiếng như “Linh tiên quán” (Hoài Đức) đền Chân Vũ núi Sái (Đông Anh)…và ở nội thành là Chân Vũ quán (Đền Quán Thánh hay Quán Bắc đế, có từ đời Lý), Huyền Thiên quán (Hàng Khoai, có thơ Trần Quang Khải), Đồng thiên quán (ngõ Tạm Thương thời Ỷ Lan), Vọng Tiên quán (Hàng Bông, thời Lê Thánh Tông).. 

Đạo Nho thì có Văn Miếu - Quốc Tử giám mà nhiều sách báo đã nói đến với trên 900 năm lịch sử. Chùa Phật thì rất nhiều danh lam: độc đáo chùa Một Cột – 1049, Khai Quốc (Trấn Quốc) từ thời Lý Nam Đế (544), Xoè Nhai - Quảng Bá của thiền phái Tào Khê, Liên phái Bạch Mai với tháp đẹp thế kỷ XVIII:

Nhà Lý có khuynh hướng “cung thỉnh” các vị thần thiêng về thờ phụng ở kinh đô Thăng Long, để thủ đô bậc nhất càng thêm chất “địa linh”:

          Đền Đồng Cổ Sơn thần ở vùng Bưởi

          Đền Sóc Thiên Vương ở Sơn La

          Đền Hai Bà Trưng ở Đồng Nhân

          Đền Bố Cái đại vương ở Quảng Bá, Kim Mã…

Tôi đã nói và viết nhiều lần rằng Thăng Long – Đông Đô – Đông kinh – Hà Nội là đất tụ thuỷ (thành phố sông hồ) và đất tụ nhân.

Nhiều người Hà Nội đã biết bốn đền “Tứ Trấn” của Đông Đô- Đông Kinh:

-         Đền Bạch Mã Hàng Buồm, có gốc từ thế kỷ thứ VIII – IX, trấn phương Đông. Có thơ của Trần Quang khải đời Trần.

-         Đền Linh Lang Thủ Lệ, có từ thời Lý, trấn phương Tây.

-         Đền Quán Thánh (Chấn Vũ quán) trấn phương Bắc.

-         Đền/Đình Cao Sơn, ở Kim Liên và dọc dải từ Ô chợ Dừa đến ô Cầu Dền, có từ thời đầu Lê, trấn phương Nam

          Những di tích kể trên là những “điểm chuẩn” của kinh thành xưa, cần được bảo vệ và tôn tạo đúng mức.

Bình luận