|| Danh nhân Thăng Long Thứ 7, 20/07/2013 2:34 GMT+7

Nguyễn Quý Đức

Nguyễn Quý Đức (1648-1720):

Nguyễn Qúy Đức, húy là Tộ, hiệu là Đường Hiên, ở làng Thiên Mỗ, nay là xã Đại Mỗi, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 29 tuổi, đời Lê Hy Tông (1676), ông đã đỗ nhất giáp tiến sĩ đệ tam danh, tức Thám Hoa.

 

 

Năm Canh Ngọ (1690) ông được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh cùng Nguyễn Danh Nho. Năm Giáp Tuất (1794) thăng tả thị lang bộ Lễ, làm bồi tụng ở phủ chúa, năm 1695 được thăng đô Ngụ sử. năm 1696, vì có việc xử án không thỏa đáng, ông đã bị giáng xuống tả thị lang bộ Binh. Năm 61 tuổi (1708), ông được thăng Thượng thư bộ Binh, được phong Tá lý công thần, ông cấm đoán mọi việc phiền hà, hạch sách, nhũng nhiễu dân - Ông là người khoan dung, cảm thông với nỗi khó khăn vất vả của nông dân, vì vậy thường khoan hồng với người trốn thuế hoặc thiếu thuế, bớt tạp dịch, ông được dân ca ngợi "Tể tướng Qúy Đức, thiên hạ yên tức" (Tể tướng Qúy Đức, thiên  hạ yên vui). Năm Giáp Ngọ(1714) được thăng hàmthiếu phó, tước Liêm Quận Công. Năm Đinh Dậu (1717), thăng Thái Phó Quóc lão, vinhphong Tá lý công thần. Năm 72 tuổi, ông dâng sớ xin về trí sĩ. Hàng ngày ông dạo chơi quanh vùng, có khi vác cuổca đồng cùng nông dân, khi cùng các bạn văn chương cùng nhau xướng họa. Ông đã dành 10 mẫu ruộng được triều đình ban cho để tặng dân làng và trích ra 4 mẫu lập chợ Khánh Nguyên, tức chợ Mỗ ngày nay. Ông là người thẳng thắn, không xu nịnh, được người đời kính trọng.Tính tình ông đôn hậu, thương người, hòa nhã và bình dân nên được mọi người kính trọng, yêu mến. Nguyễn Qúy Đức luôn thể hiện là một vị trung thần. Khi bàn luận chính sự, có điều gì chưa thỏa đáng thì kiên quyết giữ ý kiến của mình, không ai lay chuyển nổi. Làm văn thì không cần trau chuốt, không chuộng lối tầm chương trích cú nhưng ý tứ vẫn tinh tế, chặt chẽ. Việc sửa sang, trang trí nhà Thái học, dựng bia Tiến sĩ (ở Văn Miếu), ông đều đích thân trông coi cho đến khi hoàn thành tốt đẹp. Nguyễn Qúy Đức là nhà sử học, cùng với Lê Hi hoàn chỉnh bản thảo cuối cùng của bộ Đại việt sử lý toàn thư (in năm 1697).

Nhận xét về ông, Phan Huy Chú viết: "Ông là người khoan hậu trầm tĩnh. Ngày thường, thù tiếp ai thì dễ dàng, vui vẻ. Khi bàn luận trước mặt chúa, việc gì chưa thỏa đáng, ông cố giữ ý kiến mình, bàn đến ba, bốn lần, không ai ngăn được. Ông làm văn không cần trau chuốt mà ý sâu. Triều đình có chế tác gì lớn, phần nhiều do tay ông thảo. Ông làm tể tướng 10 năm, về chính sự chuộng khoan hậu...".

Sự nghiệp trước tác và chấn hưng văn học, giáo dục của Nguyễn Qúy Đức cũng khá rạng rỡ.Về thơ, ông có Thi châu tập, Hoa trinh thi tập và 72 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Ngoài ra ông còn có một số thư văn nôm chép lẫn với thơ văn chữ Hán trong sách Nguyễn Qúy thị văn phả, gồm 5 tập, hiện còn được lưu giữ tại nhà con cháu ông.

Khi còn nhỏ, Nguyễn Qúy Đức đã nổi tiếng thông minh, nhanh nhẹn. Gia phả họ Nguyễn Qúy làng Đại Mõ còn ghi lại một bài thơ của Nguyễn Qúy Đức khỉa chơi chùa Trấn Quốc.Bài thơ theo thể "thuận nghịch độc", tức là đọc xuôi, đọc ngược đều thành thơ, đọc xuôi là thơ chữ Hán, đọc ngược là thơ chữ Nôm. Bài thơ như sau:

Đọc xuôi:

Trang nghiêm cảnh tĩnh thảm chi viên

Thú vị màu ni thế giới tiên

Hương phất bàng mai hoa bích vựng

Nguyệt lai lung trúc ấn thanh liên

Sương đàm bích diệp hoa lung viện

Tuyết ánh ngân đài nguỵet trú thuyền

Lương văn bối kinh phô ngọc ấn.

Quang phòng chiếm liểu liểu chân thiên.

Đọc ngược:

Thiên chân leo lẻo chiếm phong quang

An ngọc phô linh buổi văn lương

Thuyền chứa nguyệt đài ngần ánh tuyết

Viện lồng hoa diệp biếc đầm sương

Sen xanh ấn trúc lung lay nguyệt

Vừng biế hoa mia phảng phất hương

Tiên giới thế này màu vị thú

Vườn chi đất tĩnh cảnh nghiêm trang.

Ông là người ham thích thơ văn cổViệt Nam, sao lục tàng trữ ở nhà. Bài tiểu dẫn khi khắc lại sách Quần hiền phú tập của Hoàng Sần Phu có đoạn viết: Sách Quần hiền phú tập bản khắc cũ tan nát không còn. Năm Đinh Dậu (1717) đã nhân được một bản sao cũ của nhà Nguyễn Qúy Đức, đem về hiệu đính và chú giải..." Hiện nay thư viện Khoa học xã hội còn giữ được một bản sao chép sách Quần hiền phú tập, 6 quyển, cộng 214 tờ... Rõ ràng nhờ sự ham thích thơ văn cổ của Nguyễn Quý ĐỨc mà Quần hiền phú tậpcòn lại đến ngày nay.

Tương truyền, Nguyễn Qúy Đức là người đối đáp giỏi nổi tiếng. Khi còn nhỏ, một lần gặp quan huyện trong một quán nước,quan huyện hỏi:

- Cậu đã học sách gì rồi?

Đức đáp: đã học hết sách luận ngữ. Ông huyện liền ra một về đối toàn chữ trong sách Luận ngữ:

Thực vô cầu bão, cư vô cầu an, quân tử chí.

(Ăn không cần no, ở không cần yêu, đúng chí quân tử)

Đức ứng khẩu đối ngay, cùng dùng toàn chữ trong Luận ngữ:

Chiêu nhi bất lai, lung nhi bất khứ, xã tắc thần

(Vẫy không chịu lại, xua không chịu đi, phò xã tắc đáng mặt bề tôi)

Ông huyện rất kinh ngạc, hết lời khen ngợi.

Có lần Đức đi chăn trâu, chẳng may để trâu ăn khoai của làng Cầu Đơ. Ông phủ đi qua, sai lính bắt trâu. Đức xin trâu về, ông phủ ra điều kiện phải đối được vế đối của ông thì mới tha. Vế đối như sau:

Khoai Đơ xanh tốt nhờ về phủ

(Câu này có nghĩa là khoai xanh tốt là do được phủ rơm rạ,cũng có nghĩa là nhờ quan phủ)

Đức nghe xong, đối luôn:

Lĩnh Mỗ vàng trơn bởi cónghè.

(Nghè là lấy chày nện tấm lĩnh cho mịn mặt, còn có nghĩa là ông nghè).

Quan phủ khen về đối có khẩu khí hơn người, liền trao trả trâu cho Đức.

Tương truyền một lần chúa Trịnh Cương xem bài thơ Lăng mẫu tống sứ giả của Lê Thánh Tông thấy thiếu 2 câu vì thất truyền, chỉ còn 6 câu:

Đình phô đằng đẵng ngựa rời chân

Nỗi mẹ con này gửi sứ quân

Nhớ Hán, lòng còn son một tấm

Thương Lăng, tóc đã bạc mười phân

.....

Minh thiếp lá vàng dầu mỏng mảnh

Về thời khuyên nó nghĩa quân thần.

Chúa Trịnh Cương bảo các quan nghĩ 2 câu để bổ khuyết, Chưa ai nghĩ ra thì Nguyễn Qúy Đức đã đọc 2 câu (đúng như lối thơ nôm đời Hồng Đức, câu 5-6 chỉ có 6 chữ):

Niềm trung hiếu khôn hai vẹn

Hội công danh dễ mấy lần

Chúa ngợi khen và thưởng cho hai hốt bạc.

Ở Quốc Tử Giám hơn 10 năm, ông đã có nhiều công lao trong việc đào tạo nhân tài cho đất nước. Ông cũng có công lớn trong việc xây dựng Đại thành điện, hai bên giải vũ ở Quốc Tử Giám và trông coi việc dựng 20 tấm bia tiến sĩ (Văn Miếu) trong 20 khoa thi từ 1656 đến 1715 và đứng tên nhuận sắc nhiều bài văn bia.

Tại xã Đại Mỗ hiện còn giữ được bức vẽ chân dung ông. Nhà vuông "Lạcthọ đình" do ông xây dựng ở quê hương, trồng cây từng cây bách, làm chỗ họp mặt vui chơi của các phụ lão, nay tuy không còn, nhưng tấm biển "Lạc thọ đình" đề tên ngôi nhà âý, vẫn còn giữ được.

Tục ngữ xưa có câu: "Nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh Cót" để chỉ những làng của huyện TỪ Liêm cũ có nhiều người hiển đạt và nổi tiếng về văn học. Xếp hàng đầu là làng Đại Mỗ vì có gia đình Nguyễn Qúy, Nguyễn Qúy Đức và con là Nguyễn Qúy Ân đều đỗ tiến sĩ, cháu nội là Nguyễn Qúy Kinh đỗ hương cống (cử nhân), ba đời đều giữ những chức vụ trọng yếu trong triều, khi mất đều được phong làm phúc thần.Hiện nay ở địa phương còn truyền tụng câu đối:

Đỉnh giáp nhất môn thiên hạ hữu

Phúc thần tam diệp thế gian vô

Dịch:

Khoan giáp một cửa tập trung, họa có trong thiên hạ Phúc thần ba đời tiếp nối, không thấy ở thế gian.

Nguyễn Đức Qúy, một danh nhân của Thăng Long - Hà Nội đã làmvẻ vang, rạng rỡ thêm cho dòng họ Nguyễn Qúy, cho quê hương Đại Mỗ - Từ Liêm và truyền thống ngàn nămvăn hiến của đất "kinh sư muôn đời".

Bình luận