|| Danh nhân Thăng Long Thứ 7, 20/07/2013 1:41 GMT+7

Lý Thái Tổ (974-1028)

Thái Tổ là miếu hiệu Ông Tổ Lớn của vị vua khai sáng triều đại nhà Lý: Lý Công Uẩn. Ông sinh ngày 8 tháng 3 năm 974. 

Nhưng bên cạnh những con số về ngày sinh tháng đẻ đếm theo dương lịch và hiện đại ấy, cần ghi nhớ hơn đến ngày tháng năm sinh của ông, theo cách tính tuổi của lịch pháp cổ truyền (âm lịch): ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất. Nhất là cái năm Giáp Tuất này, vì nhiều sự việc hệ trọng, liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của ông, là gắn bó, hoặc thậm chí xuất phát từ cái tuổi Giáp Tuất (" cầm tinh con chó") của ông.

Để sinh được vào tuổi ấy, Lý Công Uẩn là người chỉ biết mẹ mà không biết cha, mặc dù ta thấy sử cũ có chép rằng: cuối năm 1009, ở tuổi 35, ngay sau khi lên ngôi hoàng đế, thì cùng với việc truy phong mẹ làm "Minh Đức thái hậu", ông cũng có truy phong cha làm "Hiển Khánh Vương" (1).

Còn mẹ của Lý Công Uẩn thì được sử cũ ghi tên tuổi bằng hai chữ: "Phạm thị" (người đàn bà họ Phạm). Và chép rõ ràng : Bà này, " đi chơi chùa Tiêu Sơn, cùng người thần giao hợp, rồi có chữa, sinh ra vua" (2).

Về tuổi thơ của Lý Công Uẩn, sách sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẵm đến nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi. Bé đã thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường. Lúc còn nhỏ đi học, nhà sư ở chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh thấy, khen rằng: "Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên, ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ".

Căn cứ vào mấy đầu mối từ các nhân vật, địa điểm, và tình tiết được nói đến trong chính sử về thiếu thời của Lý Công Uẩn, kết hợp với những điều tra nghiên cứu thực địa, có hai vấn đề quan trọng là: quê hương bản quán, và lai lịch xuất thân của Lý Công Uẩn, đã được nêu lên, như sau:
- Về quê hương bản quán: " Bà Phạm thị quê ở Đình Sấm, làm hộ chùa ở Tràng Lưu là nơi Vạn Hạnh- quê gốc Đình Bảng-trụ trì, và có mang với "Thánh Vạn" (Lý Vạn Hạnh) ở đó, sau bà về quê sinh Lý Công Uẩn, 3 tuổi trao cho "Thánh Văn" (Lý Khánh Văn) nuôi ở chùa Cổ Pháp (Đại Đình); sau Thánh Văn trao lại cho Thánh Vạn nuôi ở chùa Lục Tổ.

"Vậy, cái không gian sinh học-văn hoá của Lý Công Uẩn là một tứ giác, với 4 điểm: Đình Sấm (quê mẹ)- Đình Bảng (quê cha- cha nuôi, hay cha tinh thần, hoặc cha thực sự)- Đại Đình (có chùa Cổ Pháp-nơi Lý Công Uẩn được Lý Khánh Văn hay Vạn Hạnh nuôi từ 3 tuổi) Tràng Liêu, Tiêu Sơn (có chùa Lục Tổ - nơi hoài thai Lý Công Uẩn, và là nơi Lý Vạn Hạnh nuôi dạy Lý Công Uẩn, sau này).

"Nối liền 4 điểm đó là con sông Tiêu Tương,. Cả 4 điểm, với sông Tiêu - nước Tiêu, là không gian sinh học văn hoá của Lý Công Uẩn. Ông là sự chung đúc của khí thiêng non Tiêu Sơn - nước Tiêu Tương".(3)

- Về lai lịch xuất thân: "Từ khi sinh ra, Lý Công Uẩn đã là người con tinh thần của giới Phật giáo, được nuôi dưỡng và đào tạo tại chùa Lục Tổ-Cổ Pháp, một trung tâm Phật giáo, nằm giữa hai trung tâm lớn nhất là Luy Lâu và Kiến Sơ. Ông được coi là người "thông minh", "tuấn tú", "chỉ học kinh sử qua loa, khẳng khái, có chí lớn". Thời bấy giờ, giáo dục và thi cử chưa được nhà nước tổ chức, nên nhà chùa không chỉ là trung tâm văn hoá-tôn giáo địa phương, mà còn là trung tâm giáo dục, nơi truyền bá kiến thức, học vấn, và tăng lữ là tầng lớp trí thức, lực lượng sáng tác văn học của xã hội" (4).

Từ miền quê quán và với lai lịch như thế, đến tuổi trưởng thành, Lý Công Uẩn đã qua giai đoạn thứ hai của cuộc đời mình, chủ yếu ở không gian Hoa Lư trung tâm đất nước Đại Cồ Việt đương thời và giữa bối cảnh triều chính, chủ yếu là mấy đời vua cuối thời Tiền Lê.

Có thể là từ những năm cuối đời vua Lê Đại Hành, Lý Công Uẩn đã bắt đầu gây dựng sự nghiệp của mình ở Hoa Lư, cho dù Đại Việt sử ký toàn thư khẳng định là ông chỉ "xuất thân" (xuất lộ thân thế, khởi sự làm quan) bằng việc "thờ Lê Trung Tông" ông vua kế vị Lê Đại Hành, và chỉ ở ngôi được có vẻn vẹn 3 ngày sau khi vua cha - người anh hùng sáng nghiệp mà Tiền Lê: Đại Hành hoàng đế - băng hà vào tháng ba, năm Ất Tỵ, niên hiệu Ứng Thiên thứ 12 (1005). Bởi vì, khi ấy, Lý Công Uẩn đã đương nhiệm là người chỉ huy lực lượng quân sự bảo vệ kinh thành: "Điện tiền quân" - một chức vụ mà bất cứ ai cũng không thể một sớm một chiều đạt được.

Con đường và con người đã dẫn đưa Lý Công Uẩn từ quê hương Cổ Pháp (Từ Sơn, Bắc Ninh) tới giữa kinh đô và công việc triều chính Hoa Lư (Ninh Bình) từ trong đời trị vì của vua Lê Đại Hành (980 1005), hiển nhiên và dễ dàng nhận ra, không phải từ đâu và là ai khác, mà chính là: từ chính ngôi chùa Lục Tổ - nơi ông đã được hoài thai và nuôi dạy cho đến lúc trưởng thành, và: đại thiền sư Lý Vạn Hạnh người cha đích thực và nhiều bề của ông. Cơ sở lịch sử và chính trị để mọi người có thể biết được điều này, chính là sự thể mà sử cũ đã chép: Vạn Hạnh từng được Lê Đại Hành và triều đình Tiền Lê hết sức trọng vọng, thường xuyên nhờ cậy, hỏi han các việc lớn, kể cả những "quốc gia đại sự", như "phá Tống, bình Chiêm"

Vậy là, ít nhất thì cũng từ năm 1005, Lý Công Uẩn đã có sự ùng hộ của thế lực Phật giáo đương thời, mà đại diện tiêu biểu là Lý Vạn Hạnh - được sử cũ khẳng nhận sự hiện diện ở triều đình Hoa Lư, với tư cách và cương vị là một võ quan cấp cao. Và, ngay ở thời điểm ấy, từ nhân thân võ tướng, ông cũng đã có một dịp được vào trong chính sử, bộc lộ thêm nhân cách của một nhà chính trị với bản lĩnh lớn: "Vua (Lê Trung Tông) lên ngôi được 3 ngày thì bị (Lê) Long Đĩnh (là em của cùng mẹ) giết! Bầy tôi đều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc!" (5)

Chính bởi tinh thần và tấm lòng khẳng khái, trung trinh, đồng thời khaon thứ nhân từ - thường được sử cũ và các nhân vật lịch sử đương thời nói về ông như thế, mà Lý Công Uẩn được Lê Long Đĩnh chính là vua "Lê Ngọa Triều", một kẻ khét tiếng thất thường và tàn ác đến mức điên rồ- trọng dụng, tiếp tục để làm cho tướng chỉ huy lực lượng cấm vệ, trông coi cung điện và giữ gìn kinh đô Hoa Lư với danh vị "Tứ Sương quân phó chỉ huy sứ".

Trong vòng 4 năm (1005 1009) hoạt động giữa triều đình Hoa Lư, dưới bầu không khí đầy những bất trắc, bất ổn do vua Ngọa Triều không ngớt tác quái, Lý Công Uẩn không những vẫn là người vững vàng trước sóng gió, mà còn thăng tiến chắc chắn. "Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ" là chức vị mà cuối cùng, ông đã có được.

Không những thế, ông còn trở thành một trung tâm hy vọng đổi đời cho nhiều người - trước tiên, vẫn là giới tăng lữ, rồi cả một số đồng liêu khi vua Ngọa Triều ngày càng từ chỗ làm thất vọng cả triều đình lẫn xã hội, đã trở thành kẻ hiển nhiên phải bị đào thải. Những điềm triệu, sấm truyền xuất hiện, báo hiệu vua mới ra đời, vua cũ tận vong, đều dồn ám chỉ vào cho Lý Công Uẩn và Lê Ngoạ Triều, trong đó, có ba chuyện đã được chính sử ghi lại: "Con chó đẻ con sắc trắng đốm lông đen thành hình hai chữ "Thiên tử", kẻ thức giả nói đó là điềm năm Tuất sinh người làm vua": (Lý Công Uẩn tuổi Tuất); hàng chữ kỳ bí do sét đánh vào cây gạo, để lại "mấy câu ý nói là vua non yểu, bề tôi thì cương thịnh, họ Lê mất, họ Lý nổi lên"; và "Có lần Ngoạ Triều ăn quả khế lại thấy hột mận, mới tin sấm ngữ, ngầm tìm người Lý giết đi, thế mà Công Uẩn ở ngay bên cạnh, rốt cuộc vẫn không biết": (chữ "lý" nghĩa là cây mận) !

Có thể dễ dàng nhận ra: "Tác giả" chính của những "đòn chiến tranh tâm lý" dọn đường dư luận cho việc Lý Công Uẩn sẽ thay thế Lê Ngoạ Triều làm vua như thế, không phải ai khác, mà một lần nữa, lại vẫn chính là đại thiền sư Lý Vạn Hạnh! Vì, cuối cùng, thì chính ông này đã nói thẳng với Lý Công Uẩn: "Mới rồi, ta thấy chữ bùa sấm kỳ lạ, biết họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp Thân vệ là người khoan thứ nhân từ, được lòng dân, phải lại đang nắm giữ binh quyền trong tay, đứng đầu muôn dân, chẳng phải Thân vệ thì còn ai đương nổi nữa?"(6). Và thế là, sau khi Lê Ngoạ Triều chết ("vì say đắm tửu sắc, phát ra bệnh trĩ" - lời sử cũ), một lần nữa , lại vẫn có sự ủng hộ mạnh mẽ của giới tăng lữ - đứng đầu là quốc sư Vạn Hạnh và các quan lại đồng liêu - đứng đầu là Chi Hậu Cam Mộc Lý Công Uẩn đã được mọi người "Cùng nhau dìu lên chính điện, lập làm thiên tử, lên ngôi hoàng đế, trăm quan đều lạy rạp dưới sân, trong ngoài đều hô "vạn tuế", vang dậy cả trong triều".(7)

Hôm ấy là ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu, tức: ngày 21 tháng 11 năm 1009. Đấy cũng là giai đoạn báo hết giai đoạn thứ hai - "giai đoạn Hoa Lư", tiếp theo "giai đoạn Cổ Pháp" là giai đoạn thứ nhất - đồng thời mở ra giai đoạn thứ ba: "giai đoạn Thăng Long", trong cuộc đời của Lý Công Uẩn.

Lý Công Uẩn trở thành người Thăng Long, chính thức là từ một ngày mùa thu, tháng bảy lịch trăng năm 1010, khi vị hoàng đến mới lên ngôi cuối năm trước ở Hoa Lư, nay cùng đoàn thuyền ngự, bỏ lại phía sau kinh thành Hoa Lư- lúc này chỉ còn danh vị là một "phủ"- phủ Trường Yên- di chuyển về thành Đại La- thủ phủ thời nhà Đường thống trị, trước đấy- và, khi đoàn thuyền cập bến dưới chân thành, thấy có rồng vàng hiện lên trên thuyền ngự, nhà vua đã nhân hiện tượng kỳ lạ mà trọng đại này, đặt tên cho nơi đây là "Thăng Long".

Kinh đô Thăng Long chính thức ra đời từ đấy. Nhưng, người khai sinh kinh đô Lý Công Uẩn (lúc này đã thành, và phải được gọi đúng tên theo niên hiệu là Lý Thuận Thiên) thì trước đấy nửa năm, vào mùa xuân, tháng 2 lịch trăng năm 1010, đã có sự ban hành một văn bản (lý thuyết) dọn đường cho hành động dời đô (cũ Hoa Lư) - định đô (mới: Thăng Long) của mình rồi. Chiếu dời đô - thuộc loại hình "thủ chiếu"- do vua tự tay viết ra, để thăm dò và quảng bá ý kiến và sáng kiến xuất sắc của mình, đã được đương thời, cũng như mai hậu, đánh giá cao, và hoan nghênh nồng nhiệt. Chỉ cần chú ý thêm rằng, cả ba sự kiện trọng đại: chính thức mở kỷ nguyên bằng việc ban hành và sử dụng niên hiệu "Thuận Thiên năm thứ nhất", viết Chiếu dời đô (lý thuyết), và định đô Thăng Long (hành động)- tất cả đều đã được lựa chọn để diễn ra đúng vào năm Giáp Tuất (1010)! Đó chính là "năm tuổi", "cầm tinh con chó" của Lý Công Uẩn, khi nhà vua, lúc ấy vừa chẵn "ba con giáp"; 36 tuổi.

Từ tuổi ấy, cho đến năm 1028 (cụ thể và chi tiết, là đến ngày Mậu Tuất (lại là "Tuất" nữa!) tháng ba năm ấy, là ngày nhà vua băng hà ở toà điện Long An, giữa kinh đô Thăng Long)-Lý Công Uẩn đã có 19 năm là và làm "Người Thăng Long", ở và từ Thăng Long, tạo nên những sự kiện và sự nghiệp trọng đại và chính yếu của cuộc đời mình. Đó là:

-Khai sinh kinh đô Thăng Long: Vốn chỉ là một ngôi "làng Hà Nội- gốc", dựa vào "núi Nùng sông Tô& # 39; mà khởi dựng từ những thế kỷ đầu công nguyên, dược "lọt mắt xanh" của Lý Nam Đế để lần đầu tiên trở thành trung tâm khai quốc Vạn Xuân hồi giữa thế kỷ VI, miền đất mà Lý Thái Tổ trong Chiếu dời đô gọi tên là "Cao Vương cố đô Đại La Thành" (Thành Đại La, đo cũ của vua Cao, tức: trung tâm thống trị toàn vùng "An Nam", do "Tiết độ sứ" Cao Biền của nhà Đường định hình vào giữa thế kỷ IX), một lần nữa, chắc chắn là nhờ sứ chỉ vẽ của Lý Vạn Hạnh, đến và từ năm Canh Tuất, (1010), nơi này đã được Lý Công Uẩn, với nhãn quan bao quát mang tầm chiến lược và lâu dài, quyết định lựa chọn làm kinh đô, không những cho kỷ nguyên mới của đất nước Đại Việt đương thời, mà còn cho cả "muôn đời con cháu" về sau.

Một toà "Thăng Long thành" - hẳn là lương theo vòng tường Đại La thành chu vi 5km thời Cao Biền mà tôn tạo với 4 cửa mở ra 4 hướng (mang các tên đầy ý nghĩa: Tường Phù (đông), Quảng Phúc (tây), Đại Hưng (nam), Diệu Đức (bắc), quây lấy khu vực trung tâm là cao điểm "Núi Nùng" (Long Đỗ) - với một quần thể kiến trúc cung đình gồm 8 điện 3 cung, châu tuần quanh toà chính điện Càn Nguyên đồ sộ ở cao trên núi Nùng, thu hút thêm hàng loạt chùa chiền, quán thánh, lầu gác, đền đài, lại thêm một dải luỹ đất dài hàng chục cây số, cạp theo các dòng sông chạy tròn quanh vành ngoài kinh kỳ mà đắp dựng, tạo nên một vòng đai bảo vệ gồm tường cao hào sâu cho chốn đô thành, làm chỗ để "bốn phương tụ hội" với những phố phường, đường xá, chợ búa, bến bờ vậy là đã được Lý Công Uẩn cho xây cất tất bật, bề thế, ngay vào năm đầu định đô, rồi trong cả liên tiếp hơn mười năm theo sau, đặc biệt là trong các năm1011, 1014, 1016 Vị quân chủ, trong vai tổng công trình sư này, vậy là đã chẳng những chỉ định, mà còn đặt nền, đồng thời tạo được diện mạo cơ bản cho toà đô thị kinh thành, xứng đáng với tên gọi Rồng Hiện của mình.

Sáng nghiệp cơ đồ triều Lý: Ở và từ toà đô thị kinh thành mới được khai sinh và đặt tên là Thăng Long (Rồng Hiện)này, Lý Công Uẩn đã rất năng nổ và đầy sáng tạo, vừa đặt vững chiếc ngai vàng Thuận Thiên hoàng đế của mình giữa toà chính điện Càn Nguyên, vừa toả mọc thêm và làm cho rắn sắc những vây cánh quanh mình (kể cả việc lần đầu tiên năm 1026- ra lệnh làm "Ngọc Diệp", xác định những ai thì chính thức được coi là "cành vàng lá ngọc" cùng với mình, và dùng hôn nhân để ràng buộc bằng cách "quý tộc hoá" (thân tộc hoá) những cận thần có công, như: đem con gái ("công chúa") gả cho Đào Cam Mộc) đồng thời, nối chắc "trục" kinh đô- quê hương, để liên kết hai vùng cốt lõi này, mà làm thăng hoa thế và lực cho vương triều (kể cả việc nâng cấp bằng mỹ tự cho quê hương Cổ Pháp, thành "phủ Thiên Đức"). Ông vua đầu triều đại, vị hoàng đế khai sáng cơ nghiệp nhà Lý này rất có ý thức trong việc truyền tử lưu tôn, nối dõi tôn đường, và không chỉ bằng lòng với việc tìm được người kế vị , mà đó còn phải là người kế vị xứng đáng, nhờ được chính ông chăm chút, rèn luyện. Trường hợp hoàng trưởng tử "Ngựa của Phật" (Lý Phật Mã), không những ngay năm 12 tuổi đã được ông chọn làm thái tử, Khai Thiên vương, và & # 39;& # 39;cung Long Đức tại mé ngoài (hoàng) thành cho ở (lẫn với dân) ý muốn cho thái tử hiểu biết mọi việc của dân"- như sử cũ đã chép mà-còn,vào những năm ở tuổi 20và 24, đã được vua cha trao trọng trách cầm quân đi đánh trận, hết ở Phương Nam lại đến mạn Tây Bắc, chính là ví dụ điển hình cho sự nghiệp gây dựng cơ đồ triều Lý của Lý Công Uẩn. Nhờ thế, mà đã tồn tại trong lịch sử dân tộc, một triều đại có "tuổi thọ" vào loại lâu đời nhất-218 năm (1009-1226) với 9 đời vua-chính là triều đại nhà Lý, do Lý Công Uẩn khai sáng! Không những thế, đây còn là triều đại mà trong buổi thịnh trị của mình, đã có những cống hiến lớn lao vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc. Chỉ cần so sánh với lịch sử những vương triều trước đây: 27 năm của nhà Ngô (939-965), 13 năm của nhà Đinh (968-980), 30 năm của nhà Tiền Lê (980-1009)- cũng đủ thấy rõ điều này.

 

-Mở mang quốc gia và văn minh Đại Việt, văn hoá Thăng Long: Chính là ở và từ Thăng Long, trong thời gian khai sinh kinh thành và sáng nghiệp triều đại trong 19 năm và làm "Người Thăng Long", Lý Công Uẩn đã lập nên sự nghiệp lớn nhất này, trong cuộc đời 55 năm tuổi thọ của mình. Kế thừa với tinh thần mở mang mạnh mẽ quốc gia Đại Cồ Việt của các triều Đinh- Lê (để đến đời cháu đích tôn của mình thì sẽ (và đã) có thể chính thức đổi tên quốc gia thành quốc hiệu Đại Việt), Lý Công Uẩn là người rất chăm lo việc xây dựng và quản lý bộ máy triều chính của đất nước. Cùng với việc cẩn trọng và sáng tạo sắp xếp các hạng quan chức, dựa chắc vào lòng cốt là lực lượng quý tộc và thân thuộc, đặc biệt là trong việc tổ chức quân đội (những đơn vị cận vệ mỗi đơn vị 500 người ) mang tên "Túc xa quân" (quân theo hầu xe vua), việc ghep 15 lính thành một đơn vị (gọi là "giáp"), đặt chức "chính thủ" làm đơn vị trưởng đã tổ chức, thành lập ngay từ các năm 1011,1025), Lý Công Uẩn- ngay từ năm 1013- đã là người đầu tiên "định rõ các lệ thúê trong cả nước- như lời sử cũ chép- thành một hệ thống gồm 6 hạng mục, thu bằng tiền và thóc trên đầy đủ các tài nguyên: ao hồ, ruộng đất, bãi dâu, núi nguồn, quan ải, hải sản và lâm sản làm nguồn thu nhập của quốc gia. Việc trấn dẹp các lực lượng tạo phản, chống đối- đặc biệt là miền biên viễn phía bắc, phía tây và phía nam. Lý Công Uẩn đã nhiều lần xuất quân, thân chinh, đồng thời cử chính các vương hầu , hoàng tử của mình, cầm đầu binh mã tiến hành thực hiện các nhiệm vụ này. Việc bang giao với các nước láng giềng phía bắc, phía nam cũng được tích cực triển khai, làm vững và tăng ưu thế của quốc gia lên rất nhiều. Nhà Tống từ chỗ chỉ thừa nhận Lý Công Uẩn như một quan chức ("tiết độ sứ") của mình, đã phải phong vương (Nam Bình Vương) cho người đứng đầu triều đình nước Việt vào năm 1016, trong khi cả nước Chiêm Thành, Chân Lạp đã nhiều lần cử sứ giả đến giao hảo, tiến công (vào các năm 1011, 1012, 1014, 1025, 1026)

Tinh thần nhân dân và thương dân là tư tưởng rõ nét hình thành trong việc quản lý đất nước của Lý Công Uẩn. Luôn có những nhịp (như: xây xong cung Thuý Hoa (năm 1010), được mùa (năm1016) để Lý Công Uẩn "đại xoá thuế khoá cho thiên hạ trong 3 năm", đặc biệt là "những người mồ côi, goá chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều tha cho cả"- như sử cũ đều đã chép. Có một lời, tuy là nói trong lúc khấn nguyện thần linh, nhưng rõ ràng là tuyên ngôn với cả thiên hạ và lịch sử của Lý Công Uẩn vào năm 1012, cũng được sử cũ ghi nguyên lại: "Tôi là người ít đức, tạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu".

Giao tiếp với tinh thần như thế là một thủ pháp hữu hiệu để Lý Công Uẩn vừa tự khẳng định và quảng bá vị thế nguyên thủ quốc gia của mình, đồng thời cũng là biểu hiện đặc sắc của một phương thức chiến lược, được sáng tạo trong sự nghiệp mở đầu việc xây dựng nền văn minh Đại Việt- văn hoá Thăng Long của Lý Công Uẩn. Đó là chiến lược & # 39;& # 39;phục hưng văn hoá": tìm và lấy lại các giá trị văn hoá cổ truyền (có từ các thời trước) để sử dụng như một động lực cho việc xây dựng văn minh- văn hoá đương thời. Động thái điển hình của Lý Công Uẩn trong "chiến lược văn hoá" này, là việc nhà vua đã thu phục được thần Lý Phục Man (thời Lý Nam Đế) ở Cơ Sở (Hà Tây) trong chuyến đi & # 39;& # 39;tế vong các danh sơn" năm 1016, và đứng đầu lễ hội đua thuyền truyền thống, được mở lại ở trước toà điện Hàm Quang trông ra sông Hồng mà Lý Công Uẩn đích thân cho xây dựng , liền trong hai mùa thu, tháng bảy, các năm 1012, 1013..
Song song với "chiến lược phục hưng văn hoá" này, không phải duy nhất nhưng quan trọng hơn - là: chiến lược dùng Phật học và Phật giáo làm hệ tư tưởng (hạt nhân, cơ bản) cho văn minh Đại Việt- văn hoá Thăng Long của Lý Công Uẩn. Vị hoàng đế xuất thân từ cửa phật này, tuy đến các thế kỷ XIII và XV, trở thành đối tượng phê phán của giới nho sĩ nho học, khi rất thường xuyên và nhiều nhặn trong thời của mình, đã chủ trương và cho hợp tác quá nhiều công trình quy mô, tốn kém, cầu kỳ và công phu, cho Phật học và cho Phật giáo, nhưng điều này không làm cho ai ngạc nhiên cả, bởi cái lẽ gần như tất nhiên (đương nhiên) phải thế, của nó.

Nhưng cuối cùng thì với các "chiến lược" như thế, nền và thời ky văn hoá Thăng Long" huy hoàng, rực rỡ, đã được Lý Công Uẩn khai triển, không những trở thành một công tích tiêu biểu trong sự nghiệp và cuộc đời của người khai sinh kinh đô Thăng Long, khai sáng kinh vương triều Lý, và khai triển nền văn minh Đại Việt- văn hoá Thăng Long, mà còn đánh một dấu son, cắm mốc mốc lớn trên dòng lịch sử trường kỳ và nền văn hoá cao đẹp của dân tộc.
Lê Văn Lan

Bình luận