|| Lễ hội truyền thống Thứ 7, 20/07/2013 10:14 GMT+7

Lễ hội đền Rầm

Từ Hà Nội, nếu xuôi theo dòng sông Hồng về phía nam khoảng gần 20km sẽ đến Sâm Dương (Ninh Sở-Thường Tín-Hà Nội), nơi có ngôi đền Rầm cổ kính và nổi tiếng linh thiêng. Hàng năm, lễ hội đền Rầm được mở từ mồng 1 đến mồng 10 tháng hai âm lịch, thu hút không chỉ dân quanh vùng mà còn rất đông đảo khách thập phương đến dự hội.

Đền Rầm nằm ở ngoài đê, mặt quay ra sông trong một không gian thoáng đãng. Đền quay hướng đông nam trước mặt không có vật cản. Hướng của đền Rầm vừa hợp với thuyết phong thủy, vừa hợp với đạo lý truyền thống. Để khẳng định đây là mảnh đất lành người xưa đã tạo nên những cây lớn nhằm khẳng định vẻ đẹp của đền, đó là những cây gạo, cây đa cổ thụ với cành lá xum xuê cùng nhiều tầm gửi chùm lên miếu thổ địa như khẳng định về sự lâu đời, cổ kính của ngôi đền, rồi cây thị và nhiều cây to lớn khác đã tạo cho ngôi đền như hòa được vào thiên nhiên. Khởi thủy đền Rầm chỉ là một am nhỏ lợp tranh tre nứa lá, rồi tiến dần đến làm gỗ lợp ngói, một số bô lão ở địa phương kể rằng: Ngày đặt viên gạch đầu tiên để xây đền là vào ngày rằm (15) nên đền mới có tên là Rằm/ Rầm. Song, ngôi đèn xưa đó nay không còn. Đến năm 1856 đền Rầm mới bắt đầu được tôn tạo khang trang với tiền bái bảy gian, rồi vào đầu thế kỷ này, tòa trung điện tám mái được dựng cùng các tòa nhà phụ hai bên. Tất nhiên thời kỳ này hậu cung cũng được tu bổ cho tương xứng. Bên phải của đền hiện được dựng am thờ Trần Hưng Đạo bằng gạch, phía bên trái là điện thờ Thánh mẫu thượng ngàn. Điều đáng bàn trong cụm di tích này là phủ Trần triều. Kiến trúc này nằm ngoài đền mẫu, chỉ có ba gian đặt ở vị trí đắc địa sau miếu thổ thần. Phủ có mặt ngoài được làm theo lối gần đây, trên cùng là đôi rồng chầu mặt trời đặt trên ba chữ “Trần triều phủ”. Phần duới ở đỉnh cửa gian giữa đề “Trần triều hiển thánh”, hai bên có câu đối dọc:

            “Công tại Trần triều danh tại sử

            Sinh vi tướng quốc hóa vi thần”

Ở đỉnh cửa phải đề “Tiền hậu thư nhất” nhằm nói lên vai trò cầm cân nảy mực giáo dục tâm hồn trong sáng không khuất tất cho con người của Đức Thánh Trần. Đặc biệt theo như nhận thức của nhân dân, ban thờ ngài là nơi để người ta thề bồi đảm bảo sự rành mạch, rõ ràng trong mọi quan hệ ứng xử, nhất là trong buôn bán. Đó là một sự chuyển hóa của đức thánh, có lẽ vì thế mà ngài cùng với mẫu Liễu Hạnh đã trở thành cha mẹ của giới thương thuyền và của hầu hết mọi tín đồ theo tín ngưỡng dân gian này. Ở đỉnh cửa bên trái đề bốn chữ "ẩm hà tư nguyên" (uống nước nhớ nguồn).

Như vây, điều đáng lưu tâm ở đây là trong cùng một cụm di tích người dân thờ cả Cha lẫn Mẹ theo tâm thức dân gian.

Một chú ý khác, ở bên phải trước phủ Trần triều là miếu thổ thần nằm dưới gốc đa. Bao ngoài miếu này là những hòn đá lớn được xếp ở phía sau gần như một hòn non bộ lớn, người ta cũng không quên đặt một vài hòn đá tảng tự nhiên ở bên phải miếu. Một cụ già địa phương nói với chúng tôi đó là bóng dáng của ông Đống. Tuy nhiên những hòn đá ở phía ngoài dễ làm chúng ta liên tưởng đến hoàn đá ở am Mỵ Châu (Cổ Loa). Và cũng có thể đây là bóng dáng về tục thờ đá của người Việt từ thưở xưa.

Trở lại với điện Mẫu, về mặt tượng và đồ thờ: tượng trong đền được đặt ở các cung bệ khác nhau. Ở hậu cung tại ban thờ trung tâm đặt một khám lớn, trong khám là tượng Mẫu Thoải, vị thần trung tâm của điện thần di tích này với kích thước to gần bằng kích thước người thật. Khuôn mặt tượng phương phi nhiều nét chân dung đôn hậu, phần nào cũng chịu ảnh hưởng từ bộ mặt Quan Âm cổ truyền. Các già làng nói ngài đội chiếc mũ quyền uy điểm xuyết những hoa thiêng như hoa cúc… để biểu hiện cho sức mạnh linh thiêng. Mặt tượng sơn màu hồng phấn, tính dân gian được biểu hiện ở đôi mắt, mũi mồm không lớn, tức là các nghệ nhân đã tạc tượng không theo những chuẩn mực quy định, mà làm theo cảm tính, miễn là thấy thuận mắt. Trước mặt tượng là hệ thống đồ thờ. Ngay trên bệ của khám đặt một nhành cây thiên mệnh. Bàn thờ được đặt thấp hơn trên đó có bảng văn chạm rồng, rồi bể cảnh, đĩa đựng hoa quả bằng gỗ có chân cao và cây vàng cây bạc. Chính giữa ban thờ ở phía ngoài là một bát hương lớn đắp rồng nổi, đây là chiếc bát hương khá đẹp của làng gốm Thổ Hà. Ở hai bên ban thờ có hai tượng hầu là cô bé Thượng và cô bé Thoải, có hình thức khá ngộ nghĩnh. Ở gian bên trái là ban thờ của chầu Đệ Nhị. Cân đối bên phải là một khám và một tượng chầu Đệ Tam hay còn có tên là chầu Bơ Thoải. Ngài là chầu thủ đền nên có trách nhiệm nhận những lời kêu tiếng khấn và lễ vật của mọi tín đồ về cầu xin để tấu lên Mẫu.

Tiếp tới ngay ngoài hậu cung là ban thời Tam phủ vương quan. Ban thờ này không có tượng mà chỉ có ngai. Nối tiếp là cung tiền tế với ban thờ Ngũ vị tôn ông, ngồi chính giữa là quan lớn Bơ Phủ, vì đây là đền thờ Mẫu Thoải nên quan lớn Đệ Tam là quan bản đền có vai trò như chủ nhà và được thờ ở vị trí trung tâm. Hai bên là quan Đệ Nhất, Đệ Nhị, phía trước là quan đệ Tứ và quan lớn Tuần Tranh. Cùng hệ thống này ở đây cũng đặt tượng ba ông Hoàng, là ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười và ông Hoàng Ba. Trước mặt của ban thờ giữa là nơi tụ hội để hầu đồng. Trên bệ ngồi sát ban thờ người ta đặt một chiếc ỷ làm theo kiểu chân quỳ dạ cá chạm trổ rất đẹp, đây cũng là một hương án nhưng đáng quan tâm hơn là một khung gương chạm trổ với dàn nho. Hai cánh cửa che gương, một cánh chạm cành hoa cúc, một cánh chạm cành hoa mai. Nối tiếp ở tòa nhà tiền bái nơi gian giữa là ban ngoại. Đây là một ban thờ chính để mỗi tín đồ thắp hương lễ chư vị. Trên ban thờ ban ngoại không có tượng mà chỉ đặt một bát hương bằng đồng rất đẹp. Dưới bàn thờ này là hạ ban, ở đây không đắp Ngũ Hổ mà chỉ tượng  trưng bằng một Hổ vàng, đó là thần linh đứng đầu ở thế giới bên dưới, giữ trung phượng, và đằng sau vẽ tam sơn. Trong tư cách này hổ vàng tượng trưng cho sức mạnh trần gian và một linh vật có uy lực lớn để bảo vệ Thánh Mẫu. Cũng như nhiều điện phủ khác, đền Rầm có rất nhiều đồ thờ liên quan, ngoài những khám ban thờ bát hương thì còn các lọng, tàn, tán và đặc biệt là bộ bát bửu chạm trổ rất công phu. Nơi đây cũng còn nhiều cổ kiệu bát cống rất đẹp mang phong cách nghệ thuật cổ truyền.

Cùng với điện chính, địa phương đã xây bổ sung một điện ở phía bên trái để làm nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn. Bố trí của ban thờ Mẫu dưới dạng hình núi có ba động, đó là nơi thờ Mẫu đệ nhị và các chầu, điểm xuyết là các tượng cô cận hầu cận.

Vị thần được thờ chính ở đền Rầm là Thủy cung Thánh Mẫu tức Mẫu Thoải (Thủy). Tuy hiện nay tại đây đang tồn tại hai truyền thuyết về Mẫu Thoải (một truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian bằng con đường truyền miệng, một truyền thuyết kia được lưu lại trong thần tích) và ở cả hai dị bản này đều có những dị biệt nhất định so với các truyền thuyết khác, nhưng nhìn chung quan niệm về Mẫu Thoải ở đền Rầm vẫn thống nhất với các truyền thuyết Mẫu Thoải ở các nơi khác.

Trong một năm hầu như tháng nào ở đền Rầm cũng có lễ lớn, nhưng lễ hội chính và quan trọng nhất diễn ra từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 2 âm lịch, đây cũng là lễ hội chính của làng Sâm Dương. Hội vào tháng hai tạm được giải thích như sau: trong dân gian đã có câu “gái tháng hai trai tháng tám” và “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, được hiểu là mùa xuân mang dương khí đi với mẹ thuộc “âm”, cũng như vậy tháng tám âm đi với cha - dương… là hợp với quy luật âm dương đối đãi. Như thế mở hội Rầm thờ Mẫu Thoải vào mùa xuân có thể được coi là thích hợp với nhận thức này. Tuy diễn ra trong 10 ngày nhưng mọi hoạt động tín ngưỡng, vui chơi, nghi lễ… của lễ hội được tập trung nhất vào 3 ngày:

            Ngày mồng 5 làm lễ cấp thủy

            Ngày mồng 6 làm lễ ruớc sắc

            Ngày mồng 7 rước cỗ

Vì đây là hội làng nên ban hội đồng (ban khánh tiết) sẽ đứng lên tổ chức và điều hành, và mọi việc chuẩn bị sẽ được bắt đầu từ những tháng cuối năm trước. Trước hết ban hội đồng họp, cắt cử công việc cho mọi người: cụ già thì ở trong đội tế, nam nữ thanh niên thì khiêng kiệu, cầm cờ… trong đám rước các cháu thiếu nhi từ 10-12 tuổi thì ở trong đội múa sênh tiền, còn múa rồng, múa lân múa con đĩ đánh bồng thì do các nam thiếu niên đảm nhiệm… Tóm lại, đây sẽ là dịp huy động được rất đông đảo sự tham gia đóng góp của toàn thể dân làng.

Trước hết làng sẽ chọn một người (cũng tức là một gia đình) thay mặt làng chuẩn bị đồ lễ: bánh dày, thủ lợn, xôi chè, oản đường… Người được chọn phải có tư cách đạo đức tốt được dân làng nể trọng, gia đình thuận hòa, yên ấm, không có tang. Đồng thời với việc chuẩn bị đồ tế là việc chuẩn bị đồ mã của làng và từng gia đình. Tất cả đồ mã đều có màu trắng (họp với màu của nước) ngoài voi, ngựa, thuyền… được làm với kích thước lớn thì bắt buộc phải có một cỗ mũ cho quan lớn Bơ Phủ và hai cỗ mũ cho hai vị hầu cận, mội đôi Lốt tam đầu cửu vĩ. Hội gắn với Mẫu nên làng sẽ chọn khoảng 35 trinh nữ quanh tuổi 18, dịu hiền, đoan trang và xinh đẹp, nhà không có tang để rước hai cỗ kiệu: một kiệu võng và một kiệu vật cống, cầm lỗ bộ, bát bửu đi theo hộ giá. Người rước nước (khiêng chóe nước) là 4 trai làng vạm vỡ khỏe mạnh, gia đình không có "bụi’’, các cụ cho rằng vì chóe nước nặng con gái không khiêng được nên mới phải chọn con trai, nhưng theo suy nghĩ ban đầu của chúng tôi thì nước thuộc yếu tố âm, nam thuộc yếu tố dương, để nam giới khiêng chóe nước mát nào đó cũng hợp hơn, nhằm làm cho nước trong chóe được tăng thêm phần linh thiêng và mang lại nhiều phúc lộc.

Múa rồng, múa sư tử và múa con đĩ đánh bồng do các nam thanh niên trong làng đảm nhận sau khi đã luyện tập khá công phu. Những công việc này đòi hỏi có tính nghệ thuật nên những người tham gia trò này 2, 3 năm mới phải thay. Đội múa sênh tiền gồm 14 em thiếu nhi nữ từ 10-12 tuổi cũng được luyện tập trước đó một thời gian. Ngoài ra làng còn phải chuẩn bị để ra sông lấy nước, nhất thiết phải có 2 chiếc thuyền to (1thuyền chở nước, một thuyền chở đồ lễ), 4 chiếc thuyền con cho đội múa rồng.

Ngày 15 tháng giêng, sau khi làm lễ Thượng Nguyên, ông đồng đền cùng cụ nhất làng (hoặc nhị làng) sẽ thay mặt dân làng xin Thánh Mẫu cho được mở hội. Cả hai người cùng quì trong cung cấm khấn và xin âm dương. Ngày 1 tháng 2 làm lễ mở cửa đền, ban khánh tiết cắt đạt công việc cụ thể. Sau đó sẽ diễn ra một sinh hoạt tín ngưỡng rất đặc trưng cho đạo thờ Mẫu, ông đồng đền sẽ trực tiếp thay mặt dân làng hầu một số giá đồng, với ý nghĩa là thay mặt dân làng bày tỏ sự mừng rỡ, vui vẻ khi được Mẫu cho phép mở hội, đồng thời cũng loan báo cho các vị thần linh khác biết tin này…

Dân làng cũng đã chuẩn bị sẵn một người văn hay chữ tốt, trình một bản văn tế lên thành hoàng làng, với tính chất như xin quan địa phương được mở hội trên đất của ngài. Bản văn này làm xong và để tại đình, tới sáng mồng 4  tháng hai, người  ta sẽ mang kiệu và rất nhiều đồ vàng mã như ngựa, voi, thuyền… với kích thước lớn vào đình rước văn ra đền.

Mồng 5, trời vừa hửng sáng, tiếng trống tiếng chiêng đã thúc dục mọi người khiến cho tâm trí ai cũng ở trạng thái xao động, cả về tâm trí lẫn cử chỉ. Cùng một lúc nơi thì lễ bái, nơi thì múa rồng… tất cả mọi người cùng hòa vào một không khí cộng đồng vô giới hạn, mọi người đều nhập vai một cách nhuần nhuyễn mà không hề ý thức về một “kịch bản” định sẵn nào. Đến giờ quy định vào hội cũng là lúc người ta cảm thấy thế giới siêu nhiên và trần tục như không còn ranh giới.

Ở sân rộng trước cửa đền là 2 cỗ kiệu, 1 kiệu long đình có phủ hoa lụa và các dải lụa màu bắt từ nóc xuống và 1 cỗ kiệu võng, tất cả đều quay vào cửa đền. Trên đường linh đạo (đường trục giữa) có “2 con đĩ đánh bồng” múa nhảy. Người múa điệu này thường là trai giả gái chưa vợ, song khi vào cuộc, do xuất thần, mà họ mềm mại thướt tha một cách đặc biệt. Lùi vào phía trong sát thềm của đền là đội sênh tiền, đứng làm 2 hàng quay vào nhau.

Bao quanh đội múa sênh tiền và con đĩ đánh bồng là đội múa rồng. Trước đây rồng thường chạy ngược theo chiều kim đồng hồ, như mang ý thức thờ mặt trời, nhưng nay nhận thức đó đã tàn phai nên chỉ chạy đi rồi lộn lại phía trước sân. Tuy nhiên hình thức này vẫn như phản ánh một tục cầu nước cổ truyền. Các nhà mỹ thuật cổ Việt Nam giải thích, rồng là mây, là bầu trời, rồng lại múa theo sự điều khiển của 1 người cầm quả cầu, tức là quả lôi (tượng trưng cho sấm sét), vì thế hiện tượng múa rồng ở đền Rầm có thể coi là một biểu tượng về sự vận động của bầu trời, mà con người thông qua đó nhắc nhở thần linh hãy thực hiện nhiệm vụ để tạo nên nguồn nước no đủ.

Theo lời các cụ, thì trước đây ngày hội còn có cả múa sư tử nữa. Có thể nghĩ đây là một sinh hoạt văn hóa gắn với cầu được mùa và cầu mưa. Trong huyền thoại người Việt và nhiều cư dân Đông Nam Á coi nguyệt thực không toàn phần (Hổ phù phải nhà mặt trăng ra) là điềm được mùa nên thường chạm hình này trong tạo hình. Đầu sư tử (Việt) được đồng nhất với đầu hổ khởi nguyên, môi dưới của nó được coi như mặt trăng. Sự vận động của nó (múa) tạo nên sinh lực trong vũ trụ (tượng trưng là đuôi đỏ). Trong múa sư tử có trống tượng trưng cho sấm, có đèn ông sao tượng trưng cho bầu trời, có đèn thiềm thừ (cóc) tượng trưng cho cầu mưa, có ông địa mặt tròn đang tươi cười tượng trưng cho đất đai phì nhiêu đang đón nước mưa mà tạo nguồn sinh sôi.

Ở thềm dưới trước cửa gian giữa người ta đặt một nhang án lớn để bày đồ lễ của làng. Trên đó, chính tẩm đặt ba bộ mũ, hài của Ngài và hai vị hầu cận cùng vàng mã trắng, có thể coi đó như chuẩn mực của đồ mã hiện nay. Trên bàn thờ cũng đặt mâm ngũ quả, oản, mâm xôi thủ lợn, người ta đã xẻ miệng lợn nhét cả đuôi vào để tượng trưng con lợn có cả đầu cả đuôi.

Giờ rước lễ cấp thủy bắt đầu. Những người phụ nữ ăn mặc quần áo chỉnh tề kính cẩn đội đồ lễ khênh ra kiệu. Cành tre (còn gọi là cành nêu) cũng được một bà hội chủ đem ra đặt tựa vào bát hương. Người dân địa phương kể rằng, năm nào hội cũng phải có cành tre um tùm này, mà những lá tre tượng trưng cho sự quần tụ của tín đồ, đều bắt nguồn từ một dòng chảy là thân tre tượng trưng cho đạo mẫu. Trên những cành tre này có năm thì treo lá phướn cũng như cánh dấu (lá bùa) để cầu an lạc, tiền xu tiền chính, nay là tiền giấy thật. Nhưng sau thay cho lá phướn là những dải lụa có màu sắc tượng trưng cho ngũ phương, kết lại thành một bông cúc lớn rủ đuôi thướt tha xuống phía dưới. Ông từ ở đền giải thích, bông hoa với màu sắc đó tượng trưng cho mặt trời hay thần linh, được đặt ở đỉnh ngọn tre đã truyền sinh lực thông qua bậc thang là những đốt tre xuống cho muôn loài sinh sôi. Như vậy có thể cho cây tre này đã được thiêng hóa để mang tư cách một trục vũ trụ. Cây nêu sẽ được rước theo và để ở phía đầu đền đồng gần bàn thờ, sau khi làm lễ ở trên thuyền thì cây nêu được coi như thêm phần linh thiêng, người ta lại rước về thờ ở trong cung. Đến ngày 1-4 hàng năm khi làng làm lễ vào hè, mới hạ cây nêu và phát lộc. Mỗi gia đình trong làng sẽ được một phần lộc gồm có một lá tre, một cánh dấu, một mảnh vải phướn, một đồng tiền xu nhỏ. Phần lộc này như bùa hộ mệnh bảo vệ cho người khỏi ốm đau, bệnh tật. Còn thân và cành tre được hóa như hóa vàng mã.

Trở lại tiến trình của hội. Để mở đầu cho cuộc rước, ông đồng đền, một cụ nhất làng còn khỏe mạnh và một cụ bà vào hậu cung khấn Mẫu để được rước bát hương, rồi ông đồng lấy chiếc khăn đỏ phủ lên tay, kính cẩn đỡ lấy bát hương chính đi ra ngoài. Một cụ già cầm trống khẩu đi trước như vừa giữ nhịp vừa như báo hiệu dẹp đường. Đội nhạc bát âm đã chờ sẵn và họ đi trước ông đồng, tất cả cùng đi đến trước kiệu. Sau khi đặt bát hương lên kiệu, ông đồng tiếp tục lễ để xin Ngài cho bắt đầu cuộc rước. Tiếp đó, cụ nhất làng mặc quần áo đỏ, đội khăn đỏ, thay mặt cho cả làng vào lễ. Đến lúc này mọi sinh hoạt nghệ thuật trên sân đền đều tạm dừng lại để thần linh nghe lời cầu xin của ông đồng, cụ nhất. Lễ xong, đoàn rước bắt đầu di chuyển. Điểm xuất phát là từ cửa chính của đền, rẽ sang phải rồi đi vòng lên đê xuống bến sông, chứ không đi thẳng ra bờ sông ngay. Các cụ già ở địa phương cho biết, từ xưa tới nay đám rước đều đi theo lộ trình như vậy và lộ trình này phần nào ngược chiều kim đồng hồ.

Đi đầu đám rước là 5 trai làng cầm cờ hội, đó là 5 lá cờ ngũ hành rồi tới phường nhạc bát âm, sênh tiền đội trống và con đĩ đánh bồng, Tiếng thanh la, tiếng trống, tiếng nhị, sênh tiền, tiếng sáo, tiếng kèn… kết hợp với nhau thành một bản hòa tấu đặc biệt, nghe vừa trầm lắng xâu xa, lại vừa vui tươi náo nức như muốn mời thần linh và gọi mọi người tới xem hội. Rồi đến một người phụ nữ mặc quần áo màu trắng, đội khăn xếp màu trắng, trương một tấm biển sơn son thiếp vàng có dòng chữ: "Thủy cung Thánh Mẫu", tiếp theo là bà hội chủ cầm cây nêu và một hàng dài các bà trong đội tế bưng đồ lễ. Đi sau các bà bưng đồ lễ là 4 thanh niên mặc áo nâu đỏ, viền xanh mép vàng, thắt lưng bó que khiêng chóe nước bằng một cái đòn cổ truyền đã được sơn son, chóe là đồ sứ Bát Tràng nhưng được tạo dáng theo kiểu chóe cổ Trung Hoa, miệng chóe được phủ sẵn một chiếc khăn đỏ rồi mới đậy nắp lên trên. Hai bên chóe có 2 thanh niên cũng trong trang phục như những người khiêng cầm 2 chiếc lọng  tre. Sau đó là các thiếu nữ mặc quần áo trắng, áo dài đủ màu vác đồ lỗ bộ và bát bửu bằng gỗ, hội giá cho kiệu long đình - ở đây gọi là kiệu vật cống và kiệu Mẫu, người địa phương gọi là kiệu võng. Đoàn múa rồng dưới sự chỉ huy của ông địa cầm cầu, lúc lượn lên để dẹp đuờng, lúc lượn xuống để hộ tống, mua vui. Toàn thể dân làng và khách thập phương dự hội cũng xen vào đám rước, nên âm thanh màu sắc như được tăng lên gấp bội, niềm hân hoan, phấn khích của người này truyền sang người kia khiến cho cả đám rước đông đúc như vậy, nhưng không hề hỗn độn rời rạc. Từ lúc nào không biết, họ đã trở thành một cộng đồng thân mật, đoàn kết, trong một niềm cộng cảm chung với nhau và với cả bao la đất trời.

Ra đến bến sông, dưới làn mưa bụi, mặt sông như rộng hơn, những con thuyền đã sẵn sàng cho buổi lễ đang dập dềnh sóng nước, thuyền nào cũng được sửa soạn cho tươm tất, an toàn. Hai chiếc kiệu cùng đồ lỗ bộ và bát bửu được để lại trên bờ, còn tất cả đồ lễ của làng được đưa xuống một chiếc thuyền to, tại mui thuyền người ta bắt đầu bày hương án và xếp lễ vật lên đó, trong một khoảng thời gian ngắn, một ban thờ lộng lẫy với đầy đủ đồ lễ (hương đăng, trà, quả, thực, vàng, đồ mã cấp thủy…) đã được chuẩn bị xong, đây là chiếc thuyền dành riêng để đồng đền hành lễ ở trên sông. Đối diện với ban thờ này, ở gần đầu thuyền, sau ban lễ là cây nêu đã được dựng thẳng đứng. Chiếc thuyền lễ và thuyền rước nước sẽ được ghép 2 mạn vào nhau, trên thuyền rước nước có chóe nước, một mâm đồ lễ nhỏ. Phường bát âm theo thuyền lễ tấu nhạc phục vụ cho việc hành lễ, một ông thầy cúng (còn gọi là pháp sư) cũng có mặt ở đây để lát sau sẽ cùng đồng đền cúng xin nước. Thật ra thì một mình ông đồng đền cũng đảm nhận được việc hành lễ, nhưng đây là một lễ nghi rất quan trọng với dân làng, có ảnh hưởng tinh thần rất lớn đối với mỗi người trong suốt 1 năm nên để nhấn mạnh tính chất ấy, dân làng đã mời ông thầy cùng làm lễ. Ông thầy sẽ thay mặt dân làng mời Thánh về, còn ông đồng đền sẽ hầu chuyện với ngài. Sau đó đoàn thuyền bắt đầu rời bến, mặt sông bắt đầu xao động, trong làn mưa bụi vấn vương, cùng làn khói hương, con thuyền như vượt qua bến nước trần gian, trôi về miền thánh thiện xa xăm.

Thuyền múa rồng gồm 4 chiếc thuyền con ghép nối đuôi nhau cho đủ độ dài của con rồng, xuất phát đầu tiên, lượn một vòng theo chiều ngược chiều kim đồng hồ rồi mới tiến ra giữa dòng, vừa đi vừa múa lượn mềm mại, uyển chuyển. Giữa không gian trời, mây, nước như vừa trải dài lại như vừa lồng vào nhau trong một ngày đầu xuân, cảnh tượng này thật là ngoạn mục. Con rồng như không còn là một hình ảnh tượng trưng nữa, mà đã trở thành một linh vật sống, hiển hiện trước mặt mọi người, như đang vờn mây, như đang nhả gió… như lời ông đồng thì điệu múa rồng ở trên sông vẫn diễn ra như vậy, như để cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho may mắn… Tới thời điểm ấn định, thuyền tạt sang phía gần bãi bồi, đến điếm mà cắm cây sào không bị nước xô nghiêng thì sẽ dừng lại để lấy nước, nước ở đó mới trong, thanh, sạch (không bao giờ lấy nước ở phía bên lở vì đục) rồi những nghi thức cúng lễ bắt đầu. Lúc này, mọi con thuyền của tín đồ đều áp sát thuyền chính, rất nhiều thuyền nhỏ của các gia đình chở đồ lễ tế gia nhập đoàn thuyền chung với làng, tiếng trống, tiếng sênh, tiếng mõ, tiếng nhạc hòa quyện vào nhau, náo động như nhịp đệm cho sự hoạt động của bầu trời và mặt nước. Lòng thành kính hiện lên trên từng khuôn mặt, từ già tới trẻ, người ta như hòa vào thế giới xung quanh để chìm vào thế giới tâm tưởng với những ước vọng theo lời cầu khấn. Lúc này chỉ còn thuyền múa rồng vẫn tiếp tục múa lượn xung quanh những thuyền lễ. Gần hết một tuần hương, người ta bắt đầu thả xuống sông những đồ vàng mã nhỏ, họ tung ra giữa dòng nước nào là tiền âm phủ, nào là vàng thỏi… như muốn ban phát cho mọi chúng sinh chìm nổi hoặc cho những cô hồn, để đừng "quấy phá" cuộc lễ này. Cũng có người vứt cả tiền thật xuống dưới lòng sông. Thầy cúng cùng đồng đền bắt đầu cúng xin nước của Hà Bá, vì ngài trực tiếp cai quản ở khúc sông này. Lời khấn vừa dứt, các đồ vàng mã (tiền vàng, mũ của ngài, hia của Ngài và phụ tá) cả đồ lễ cũng được thả xuống sông. Việc thả đồ lễ xuống sông ở đền Rầm không phải là mới, mà đó là sự phục hồi một nghi lễ có từ xa xưa. Thời xa xưa lợn làm cống vật cho Hà Bá không cần luộc hay quay mà người ta chọn một con lợn chỉ nặng khoảng 30 kg, làm lông sạch sẽ để sống, rồi thả cả con xuống sông. Chúng tôi hiểu đây cũng là hiện tượng hiến tế thủy thần. Tới nay, mỗi loại đồ lễ chỉ thả một phần đuôi xuống sông (như lợn quay chỉ thả đầu và đuôi), còn lại mang về xin lộc.

Trong không khí thành kính này, từ dưới thuyền nước chuyển lên cho ông đồng đền một vòng tròn màu đỏ, rỗng (có đường kính khoảng 60cm), ông đồng đã cầm một bó hương lớn khua xung quanh vòng nhiều lần để diệt trừ tà khí. Đó là nghi lễ sái tịnh, đồng thời ông đã hầu giá đồng Quan lớn Bơ phủ, nên hành động của ông trông dứt khoát, oai nghiêm như hành động của một vị tướng, vì không có cung văn nên gọi kiểu này là hầu vo.

Thời gian thần giáng kéo dài không lâu, nhưng cũng đủ cho mọi con nhang đệ tử ở trên thuyền cảm nhận được sự hiện diện và oai linh của thần, khiến bầu không khí nơi đây càng thêm linh thiêng, nhất là qua những tiếng ra oai của thần qua miệng ông đồng. Sau đó, cụ già theo bên kiệu nước thả vòng tròn ấy xuống mặt sông, và nước sẽ được múc từ một chiếc gáo đồng trong vòng này, đổ qua một lớp vải đỏ vào trong chóe. Người dân địa phương nghĩ rằng, nước trong đó luôn luôn trong, mặc dù xung quanh đó dòng sông vẫn ngầu đỏ, nước được đổ qua tấm vải đỏ như qua một lớp lọc sẽ thêm phần tinh khiết, thiêng liêng vì đã hội tụ được cả khí âm và khí dương.   

Khi nước đã đổ đầy chóe, các con thuyền tản ra quay mũi để về bến, riêng thuyền nước và thuyền ông đồng đền còn rẽ mũi sang bên trái rồi mới lộn về bến cũ, có lẽ hành động này mang một ý nghĩa gì đó mà nay đã thất truyền, phải chăng chuyện quay mũi về phía bên trái rồi mới lộn về cũng vẫn là biểu hiện mờ nhạt của tục thờ mặt trời (đi ngược chiều kim đồng hồ).

Trên bờ, đông đảo mọi người đang nóng lòng chờ đợi, ai cũng vui mừng hớn hở và tràn đầy niềm tin, hy vọng vào một tương lai tốt lành, bởi thần linh đã ban cho họ nước thiêng, dòng nước sẽ đem đến cho họ sự ấm no, thịnh vượng, sự may mắn… sẽ giúp họ tẩy rửa bớt những rủi ro xui xẻo… Họ tin như vậy, và nhờ niềm tin ấy mà họ yên tâm và thanh thản bước vào một vòng quay thời gian mới, một chu kỳ sản xuất mới. Chóe được khiêng lên bờ một cách cẩn trọng, đoàn rước lại tưng bừng trống rong cờ mở về đền.

Về đến đền, chóe nước được mang vào hậu cung, phu khiêng nước sau khi để nước vào đúng vị trí đã ra lễ thần, kiệu cũng được đưa vào tiền bái. Ngoài sân lại tưng bừng nhộn nhịp các trò vui: rồng múa lượn từ đầu nọ tới đầu kia, con đĩ đánh bồng uyển chuyển nhịp nhàng theo nhịp trống, đội múa sênh tiền rộn rã tươi vui… Những trò này nhằm mua vui và chào mừng Thánh Mẫu đã hồi cung. Cùng đó là nhiều trò vui như chọi gà, kéo co, kéo chữ, cờ người, tổ tôm điếm...

Các bô lão ở địa phương kể rằng, trò chơi chọi gà, kéo co là những trò đã có từ rất lâu đời, thông qua lời kể, chúng ta như chợt hiểu chọi gà là một trò chơi gắn với tục thờ mặt trời, bởi "Chim (hay gà trắng) đều là biểu tượng mặt trời - núi"(1) việc chọi gà nhằm biểu hiện sự vận động của mặt trời. Tất nhiên điều này còn phải được nhiều nhà nghiên cứu giải đáp kĩ hơn. Kéo co là một trò chơi có ở khắp vùng này, ở đền Rầm người ta dùng dây chão để kéo, trước đây thì dùng rơm bện thành hình con rắn để kéo, do vậy tục kéo co cũng gắn liền với nghi lễ cầu mưa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, kéo co biểu hiện cho sự vận động của con rắn như để cầu phúc mà khởi nguồn là từ nước.

Ngoài ra những trò khác như kéo chữ, cờ người, tổ tôm điếm, hát quan họ hay những trò vui chơi quá gần gũi của thời hiện đại… chỉ mới được hội nhập từ những nơi khác tới trong thời gian gần đây, và ở những trò chơi này hiện nay vẫn chưa tìm được ý nghĩa khởi nguyên của chúng.

Tối hôm đó làng làm lễ dâng văn thờ, tức là ông đồng quỳ trước bàn thờ và kể lại tích của Mẫu (bằng điệu hát văn) sau đó làm lễ tế rồi đến đêm mới làm lễ mộc dục.

Ngày mồng 6 có lễ rước sắc, tức là rước những sắc phong của Mẫu từ đền trình vào trong đình, ngày mồng 7 là lễ rước cỗ chay dâng lên Mẫu. Những lễ rước này chủ yếu chỉ có dân làng tham dự chứ không có khách thập phương tham gia. Tới ngày 10 tháng 2, đền làm lễ tạ hội (giã hội), nhưng cho đến hết tháng hai khách thập phương đến lễ tại đền vẫn rất đông và vui./.

Theo Lễ hội cổ truyền Hà Tây, Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây, 1999

Bình luận