|| Danh thắng Hà Nội Thứ 7, 20/07/2013 3:49 GMT+7

Điểm danh thắng trên đất kinh kỳ

Hồ Gươm – Đền Ngọc Sơn

Hồ Gươm là một  trong những biểu tượng của Thủ đô Hà Nội. Hồ có nhiều tên gọi khác như hồ Gươm, hồ Lục Thủy hay hồ Thủy Quân. Tên gọi Hồ Hoàn Kiếm có từ thế kỷ 15. Gắn liền với truyền thuyết Rùa thần đòi gươm. Ghi lại một dấu ấn thắng lợi trong cuộc chiến tranh dân tộc chống quân Minh (1417-1427) do Lê Lợi lãnh đạo. Truyền thuyết kể rằng, khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hoá) đã tình cờ tìm được một lưỡi gươm, sau đó lại nhặt được một chuôi gươm ở ruộng cày. Ngài ghép lại thành một thanh gươm rồi đặt tên là Thuận Thiên. Thanh gươm báu này đã theo Lê Lợi trong suốt thời gian kháng chiến chống giặc ngoại bang cho đến ngày thắng lợi. Khi lên ngôi và đóng đô ở Thăng Long, một lần vua Lê Lợi dạo chơi bằng thuyền trên hồ thì bất chợt gặp rùa lớn nổi lên và bơi về phía ngài. Nhà vua rút kiếm ra để đuổi rùa. Rùa liền đớp lấy thanh kiếm rồi lặn xuống nước. Từ đó hồ được đặt tên là Hoàn Kiếm.

hanoivanhien diem-danh-thang-tren-dat-kinh-ky-news

Ngày nay Hồ Gươm trở thành điểm trung tâm diễn ra các hoạt động văn hóa ở quanh hồ trong các dịp lễ tế và nơi đây cũng được khá nhiều bạn trẻ ghi lại những khoảnh khắc đẹp của mình trong mỗi dịp về Thủ Đô.

hanoivanhien diem-danh-thang-tren-dat-kinh-ky-news 

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Là một trong những biểu tượng hàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long. Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám, mà kiến trúc chủ thể là Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao quanh, phía trong chia thành 5 lớp không gian với các kiến trúc khác nhau. Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa để thông với nhau (gồm cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên). Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Khuê Văn Các, Đại Thành và cổng Thái Học. Với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi.

hanoivanhien diem-danh-thang-tren-dat-kinh-ky-news 

Bảo tàng dân tộc học

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vừa là một cơ sở khoa học vừa là một trung tâm văn hóa, có tính khoa học cao và tính xã hội rộng lớn. Bảo tàng có 2 khu vực chính. Một khu bao gồm nhà trưng bày, văn phòng và cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường... Các khối nhà liên hoàn với nhau, có tổng diện tích 2.480m2, trong đó 750 m2 dùng làm kho bảo quản hiện vật. Khu thứ 2 là khu trưng bày ngoài trời, rộng khoảng 2 ha, bắt đầu xây dựng năm 1998 và hoàn thành công trình trưng bày cuối cùng trong năm 2006.

hanoivanhien diem-danh-thang-tren-dat-kinh-ky-news

Bảo tàng có 54 bộ sưu tập về từng dân tộc, như: về người Thái, về người Hmông, về người Gia Rai... Phân chia theo công dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức, về nông cụ, về ngư cụ, về vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ... Lại có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo-tín ngưỡng, cưới xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác. Trên cơ sở đó, Bảo tàng tổ chức trưng bày và xuất bản sách ảnh theo các dạng thức sưu tập khác nhau, bổ ích và lý thú đối với mọi đối tượng, mọi trình độ học vấn.

Với khu ngoài trời, Bảo tàng đã dựng 9 công trình kiến trúc dân gian cùng một số hiện vật lớn như: Nhà rông của người Ba Na, nhà sàn dài của người Ê Đê, nhà sàn của người Tày, nhà nửa sàn nửa đất của người Dao, nhà trệt lợp ván pơmu của người Hmông, nhà ngói của người Việt, nhà trệt của người Chăm, nhà trình tường của người Hà Nhì, nhà mồ của người Gia Rai. Xen giữa các công trình kiến trúc dân gian đó là cây xanh các loại, các lối đi ngoằn ngoèo và cả con suối uốn khúc chảy suốt 4 mùa.

 hanoivanhien diem-danh-thang-tren-dat-kinh-ky-news

Bảo tàng lịch sử

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam được thành lập dựa trên cơ sở vật chất của Bảo tàng Louis Finot – Bảo tàng do Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp xây dựng năm 1926. Đến năm 1958, Chính phủ Việt Nam tiếp quản xúc tiến nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung tài liệu hiện vật từ Bảo tàng Nghệ thuật thành Bảo tàng Lịch sử. Đến ngày 3/9/1958 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chính thức mở cửa đón khách thăm quan.

 hanoivanhien diem-danh-thang-tren-dat-kinh-ky-news

Với diện tích trưng bày hơn 2.200 m2, gần 7.000 tư liệu hiện vật, bảo tàng được thể hiện theo nguyên tắc trưng bày niên biểu, lấy sự phong phú của hiện vật làm ngôn ngữ biểu đạt chính, kết hợp giữa trưng bày phản ánh từng giai đoạn và sự kiện lịch sử với kiểu trưng bày theo hướng mở, nên đã tạo điều kiện để có thể cập nhật những tư liệu hiện vật mới do công tác nghiên cứu sưu tầm đem lại, làm cho "diện mạo" trưng bày luôn mới mẻ, hấp dẫn người xem.

Đền Quán Thánh

Đền Quán Thánh nằm trên đất phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, cạnh bên Hồ Tây cùng với chùa Kim Liên, chùa Trấn Quốc và cửa Bắc Thành Hà Nội. Ngôi đền là một trong Thăng Long tứ trấn ngày xưa, được xây dựng vào đầu thời nhà Lý Thái Tổ (1010 - 1028), thờ Huyền Thiên Trấn Vũ.

hanoivanhien diem-danh-thang-tren-dat-kinh-ky-news

Theo sự tích được ghi chép ở đền thì Huyền Thiên Trấn Vũ là thần trấn quản phương Bắc, đã nhiều lần giúp nước Việt đánh đuổi ngoại xâm: Lần thứ nhất vào đời Hùng Vương thứ 6 đánh giặc từ vùng biển tràn vào, lần thứ hai vào đời Hùng Vương thứ 7 đánh giặc Thạch Linh... Trong bản ghi chép còn có chi tiết Huyền Thiên Trấn Vũ giúp dân thành Thăng Long trừ tà ma và yêu quái, giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa, diệt Hồ ly tinh trên sông Hồng đời Lý Thánh Tông...Pho tượng thần Huyền Thiên Trấn Vũ được đúc bằng đồng đen vào năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677), đời Lê Hy Tông .Tượng cao 3,96m, chu vi 8m, nặng 4 tấn, tọa trên tảng đá cẩm thạch cao 1,2m. Tượng có khuôn mặt vuông chữ điền nghiêm nghị nhưng bình thản hiền hậu, mắt nhìn thẳng, râu dài, tóc xoã không đội mũ, mặc áo đạo sĩ ngồi trên bục đá với hai bàn chân để trần. Bàn tay trái của tượng đưa lên ngang ngực bắt ấn thuyết pháp, bàn tay phải úp lên đốc kiếm, kiếm chống trên lưng rùa nằm giữa hai bàn chân, quanh lưỡi kiếm có con rắn quấn từ dưới lên trên. Rùa, rắn và kiếm là biểu trưng của Huyền Thiên Trấn Vũ. Tượng Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo duy nhất tại Việt Nam, khẳng định nghệ thuật đúc đồng và tạc tượng của người Hà Nội cách đây ba thế kỷ.

hanoivanhien diem-danh-thang-tren-dat-kinh-ky-news

Kiến trúc đền bao gồm: tam quan, sân, ba lớp nhà tiền tế, trung tế, hậu cung. Các mảng chạm, khắc trên gỗ có giá trị nghệ thuật rất cao. Bố cục không gian rất thoáng và hài hòa. Hồ Tây trước mặt tạo cho đền luôn có không khí mát mẻ quanh năm. Ngôi chính điện (bái đường), nơi đặt tượng Trấn Vũ, gồm 4 lớp mái (4 hàng hiên), chính giữa là bức hoành phi đề "Trấn Vũ Quán".

Không chỉ là một công trình có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, đền Quán Thánh còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa nổi tiếng của người dân Hà Nội xưa và nay. Trải qua gần một thiên niên kỷ nhưng ngôi đền vẫn còn nguyên vẹn. 

Chùa Trấn Quốc

Chùa Trấn Quốc nổi tiếng là chốn cửa Phật linh thiêng, là điểm thu hút rất nhiều tín đồ Phật tử và khách tham quan. Chùa nằm trên một hòn đảo duy nhất của Hồ Tây, là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam có lịch sử 1500 năm, được khởi dựng từ thời Lý Nam Đế (544 – 548). Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoà giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã giữa nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang. Là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long vào thời Lý, Trần.

Trong chùa hiện nay đang lưu giữ 14 tấm bia. Trên bia khắc bài văn của tiến sĩ Phạm Quý Thích vào năm 1815 có ghi lại việc tu sửa chùa bắt đầu vào năm 1813 và kết thúc vào năm 1815. Khuôn viên chùa có Bảo tháp lục độ đài sen được xây dựng năm 1998. Bảo tháp lớn gồm 11 tầng, cao 15m. Mỗi tầng tháp có 6 ô cửa hình vòm, trong mỗi ô đặt một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý. Đỉnh tháp có đài sen chín tầng – đây được gọi là Cửu phẩm liên hoa bằng đá quý. "Hoa sen tượng trưng cho Phật tính chân, như tính sinh ở dưới bùn mà không bị ô uế. Bồ đề là trí giác, trí tuệ vô thượng. Tất cả đều hàm ý nghĩa bản thể và hiện tượng của các pháp" – theo lời giải thích của thầy Thượng toạ Thích Thanh Nhã trụ trì chùa. Chùa được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá cấp quốc gia vào năm 1989.

 hanoivanhien diem-danh-thang-tren-dat-kinh-ky-news

36 Phố phường

Ít người biết rằng con số 36 không phải lúc nào cũng phản ánh đúng hiện thực. Vào các thời kỳ lịch sử khác nhau, khu phố cổ có số phường nghề khác nhau, mỗi phường gắn với một con phố. Hơn nữa, số lượng đường phố còn phụ thuộc vào cách tính của mỗi người, tức là cách hiểu sử sách như thế nào. “Phố” khác hẳn với “phường”. Thời nhà Lê (thế kỷ 15-18), khái niệm “phường” chỉ là một tổ chức người cùng làm một nghề hay một đơn vị hành chính của thành Thăng Long. Các phường tên nghề của mình đặt cho con phố nơi họ đang làm ăn buôn bán.

Ngày nay các phố nhìn chung vẫn giữ nguyên tên gọi từ thời xưa. Tuy nhiên, hầu hết chức năng ban đầu ở các phố đều đã chuyển đi nơi khác hoặc không còn tồn tại nữa.

Mỗi khi đến khu phố cổ Hà Nội, du khách sẽ được sống cùng với hơi thở của nền văn hóa đô thị cổ, dẫu cho du khách có khó tính đến đâu thì cũng vẫn bị hấp dẫn bởi những giá trị văn hoá phi vật thể, chứa đựng và sống động trong lòng những con phố cổ cùng với các công trình kiến trúc vật thể, là di tích của những ngôi chùa cổ (thờ Phật), những ngôi đình cũ (thờ thần Thành Hoàng), và những đền, miếu, quán... xưa (thờ các nhân thần và hiển thần), cả những nhà thờ họ (thờ tổ tiên các gia đình, dòng tộc)..

Ngoài ra du khách còn có dịp để hưởng thụ những nét đặc sắc, vô cùng hấp dẫn của nền “văn hoá ẩm thực” đa dạng ở khu phố cổ Hà Nội như: Phở gà, Bún thang, Mứt hàng đường.

Bình luận