|| Phố phường Hà Nội Thứ 7, 20/07/2013 10:53 GMT+7

Các đường phố Hà Nội theo vần L

LA THÀNH

Đường: dài 2,5km; từ ngã năm Ô Chợ Dừa đến ngã ba Voi Phục - Cầu Giấy. Vốn là đoạn đường thành lũy phía nam, vòng giữa của thành Đại La, chạy dọc bên bờ bắc sông Kim Ngưu - một nhánh của sông Tô.

Trước đây, cả bức tường lũy kéo dài từ Ô Kim Liên đến ngã ba Voi Phục được gọi là đê La Thành. Năm 1964, đoạn cuối nhập vào phố Giảng Võ.

Tháng 1-1999, Hội đồng nhân dân thành phố điều chỉnh lại, cắt đoạn đê La Thành cũ, trả lại, lập thành đường La Thành. Nay thuộc các phường Ô Chợ Dừa (quận Đống Đa), Giảng Võ, Thành Công, Ngọc Khánh (quận Ba Đình). Gần trường Mỹ thuật Công nghiệp có lối rẽ vào chùa Thanh Nhàn, di tích đã xếp hạng năm 1989.

Đê: dài 1,8m; từ ngã năm Ô Chợ Dừa đến đầu phố Đào Duy Anh - Kim Hoa. Nay thuộc các phường Thổ Quan, Nam Đồng, Phương Liên, quận Đống Đa. Đã có quy hoạch mở rộng thành đường Vành đai1.

La thành: hoặc Đại La thành là tên chỉ toà thành đất bao quanh trụ sở của bọn thống trị phương Bắc, xuất hiện từ thế kỷ VIII do Trương Bá Nghi đắp, sau đến Trương Châu, Cao Biền tiếp tục tôn cao và mở rộng thêm. Lý Công Uẩn khi dời đô ra thành Đại La, đặt tên mới là Thăng Long.

 

LẠC CHÍNH

Phố: dài 250m; chạy dọc bao phía đông bán đảo Ngũ Xã, bên bờ đông hồ Trúc Bạch.

Đất thôn Lạc Chính, tổng Yên Thành, tổng Vĩnh Thuận cũ.

Nay thuộc phường Trúc Bạch, quận Ba Đình.

Thời Pháp thuộc là đường 104 (voie l04). Thời tạm chiếm: phố Vũ Phạm Hàm. Tên mới đặt năm 1964.

 

LẠC LONG QUÂN

Đường: dài 4km; từ ngã ba Nhật Tân - Phú Xá trên đê sông Hồng chạy dọc theo bờ tây hồ Tây đến chợ Bưởi, qua trước trụ sở Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ.

Đất các phường Nhật Chiêu (tổng Thượng), Trích Sài, Bái Ân, Yên Thái (tổng Trung), huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay đoạn đầu đường thuộc các phường Nhật Tân, Phú Thượng, Xuân La, quận Tây Hồ, từ ngã ba Xuân Tảo Sở đến chợ Bưởi thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ và phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy.

Trước còn có tên dân gian: đoạn cuối gần chợ Bưởi là phố Trích Sài. Tên mới đặt năm 1986.

Lạc Long Quân: thủy tổ của nước ta trong truyền thuyết. Ở sông Tô - sông Hồ xưa có con cáo chín đuôi hoành hành, hại dân. Thần Lạc Long hoá phép làm mưa, gió vây bắt hồ tinh, giao tranh ba ngày đêm, dâng nước sông xoáy thành vực mới giết được nó. Cái vực sâu sau thành đầm gọi là đầm Xác Cáo - nay là hồ Tây. Còn xóm nhà ở vùng đất cao bên hồ gọi là làng Hồ. Lạc Long quân lấy bà Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm con trai, chia một nửa theo mẹ lên rừng, một nửa theo cha xuống biển khai phá lập nghiệp. Con trưởng ở lại Phong Châu (Phú Thọ) làm vua Hùng, đặt lên nước là Văn Lang.

 

LẠC TRUNG

Đường: dài 870m; từ phố Kim Ngưu (bờ đông) đến dốc Minh Khai (Đường từ đê sông Hồng xuống Vĩnh Tuy – Minh Khai).

Lạc Trung là tên làng do sáp nhập hai thôn Trung Chi (hoặc Hương Thế) và Yên Lạc, thuộc tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Đường mới mở chạy qua làng. Nay thuộc các phường Thanh Lương, Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng.

Tên mới đặt năm 1990.

 

LAN BÁ

Ngõ: ở ngõ chợ Khâm Thiên.

Vốn là một xóm của thôn Phụng Thánh, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Trung Phụng, quận Đống Đa.

LÃN ÔNG

Phố: dài 180m: từ ngã tư phố hàng đường - Hàng Ngang đến phố Thuốc Bắc, chạy ngang qua ngã tư phố Chả Cá - Hàng Cân.

Đất thôn Hậu Đông Hoa Môn, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc các phường Hàng Đào, Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Phúc Kiến (rue des Phúc Kiến). Từ thời tạm chiếm đổi là phố Lãn Ông.

Lãn Ông (1720 -1791): gọi tắt của Hải Thượng Lãn Ông, tên thật là Lê Hữu Trác người Liêu Xá, huyện Đường Hào (nay là Mỹ Hào), tỉnh Hưng Yên. Sau về ở quê mẹ là huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Học rộng, nổi tiếng là danh y, từng được chúa Trịnh mời ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử (1781).

Tác giả bộ sách thuốc lớn gồm 63 quyển: Y tông tâm lĩnh, Bách gia trân tàng, Hành giản trân như và tập kýThượng Kinh ký sự ghi lại hành trình đến Thăng Long, rất giá trị.

 

LÁNG

Đường: dài 4km; từ ngã tư Cầu Giấy đến Ngã Tư Sở, chạy bên bờ đông sông Tô Lịch, trên đất trại Yên Lãng và phường Thịnh Quang, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ. Có chùa Láng tức Chiêu Thiền tự, một danh thắng cổ kính đất kinh kỳ, di tích xếp hạng năm 1962, mở hội Láng ngày 7-3 âm lịch. Chùa Nền và là di tích được xếp hạng năm 1992. Đây vốn là bức tường đất vòng ngoài cùng của thành Đại La xưa.

Nay thuộc 4 phường: Láng Thượng, Láng Hạ, Thịnh Quang và Ngã Tư Sở, đều thuộc quận Đống Đa.

Thời Pháp thuộc: là ngoại thành, dân vẫn quen gọi là đường Láng, thành phố đặt tên chính thức năm 1986.

Láng: tên nôm của trại Yên Lãng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ, vùng rau Kẻ Láng nổi tiếng kinh thành Thăng Long xưa. Húng Láng là đặc sản của đất này. Qua nhiều lần, lúc thuộc huyện Thanh Trì, lúc thuộc huyện Từ Liêm, mới nhập vào quận Đống Đa. Từ 3 thôn Láng Thượng, Láng Trung, Láng Hạ, trở thành hai phường Láng Thượng và Láng Hạ.

 

LÁNG HẠ

Phố: dài 1,6km; từ ngã tư Giảng Võ - La Thành đến đường Láng, cắt ngang qua ngã tư phố Thái Hà - Huỳnh Thúc Kháng.

Đất phường Nhược Công và trại Yên Lãng, cùng thuộc tổng Hạ,  huyện Vĩnh Thuận cũ. Đường phố mới mở qua cánh đồng Láng Hạ, Láng Trung của xã Yên Lãng. Di tích đình Ứng Thiên ở trong ngõ phố này thờ Hậu Thổ phu nhân đã được xếp hạng năm 1992  (thuộc phường Láng Hạ).

Nay thuộc hai phường Thành Công - quận Ba Đình và phường Láng Hạ - quận Đống Đa. Cổng làng Thành Công ở bên phải đường phố này.

Tên mới đặt năm 1986.

 

LÁNG TRUNG

Ngõ: dài 450m, từ Ngách 107/1 đường Nguyễn Chí Thanh đến số 147 gặp ngõ 562 đường Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa. Tên mới đặt: 12-2006.

Láng Trung là một trong ba làng Láng thuộc xã Yên Lãng, huyện Thanh Trì, sau chuyển sang huyện Từ Liêm rồi thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Đất Láng Trung nay thuộc hai phường Láng Thượng và Láng Hạ, quận Đống Đa, một làng trồng rau nổi tiếng với đặc sản húng Láng và hành hoa.

 

LÃNG YÊN

Phố: dài 800m; từ đường Bạch Đằng cắt ngang qua đường Nguyễn Khoái đến đường Trần Khát Chân.

Đất hai thôn Thanh Lãng và Hộ Yên (sáp nhập thành Lãng Yên), tổng Hậu Nghiêm, huyên Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng; còn di tích chùa Hộ Quốc của thôn Hộ Yên, xếp hạng năm 1990.

Trước đây có tên dân gian phần ngoài đê ra bến Phà Đen quen gọi là đường Phà Đen hoặc dốc Lương Yên.

LAO ĐỘNG

Ngõ: từ phố Đại La đi vào khu sau trường Đại học Kinh tế quốc dân.

Đất phường Hồng Mai (sau đổi là Bạch Mai), tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc các phường Trương Định và Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng. Tên đặt sau Thủ đô giải phóng, khi hình thành khu dân cư mới ở đây.

LÂM TIÊN

Đường: dài 1,2km; từ ngã ba quốc lộ 3 đến ngã ba đường trục thị trấn Đông Anh. Thuộc xã Nguyễn Khê và thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh. Tên mới đặt: 12-2006.

Lâm Tiên là tên một thôn của xã Nguyễn Khê, huyện Đông Anh, sau được cắt vào thị trấn Đông Anh.

 

LÊ DUẨN

Đường: dài 2,6km; từ đường Điện Biên Phủ đến ngã tư Kim Liên, cắt ngang qua phố Nguyễn Thái Học, ngã năm Cửa Nam, ngã tư Khâm Thiên. Ga Hàng Cỏ Hà Nội và Công viên Thống Nhất đều nằm trên đường phố này.

Đất các thôn Vĩnh Xương, Nam Môn thị Hoa Ngư, Tứ Mỹ, Cung Tiên (tổng Tiền Nghiêm), Kim Hoa (tổng Tả Nghiêm), huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc các phường Cửa Nam (quận Hoàn Kiếm), Văn Miếu, Khâm Thiên, Trung Phụng, Phương Liên (Đống Đa), Nguyễn Du (Hai Bà Trưng).

Trước là hai đường phố:

Thời Pháp thuộc: phố Hàng Lọng (đến ga Hà Nội) và đường Quan Lộ gồm cả đoạn trước ga quen gọi phố Hàng Cỏ - Roule Mandarine.

Sau Cách mạng: phố Hàng Lọng và đường Cách mạng tháng Tám (đến Cống Vọng).

Thời tạm chiếm: phố Đờ Lát đờ Tátxinhi (Rue De Tattre de Tassigny) và phố Kim Liên (từ ngã tư Khâm Thiên).

Sau hoà bình: đường Nam Bộ và phố Kim Liên.

Từ 1988 nhập làm một đường đặt tên mới: Lê Duẩn.

Lê Duẩn (1907-1986): sinh ngày 7-4-1907, người xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, tham gia cách mạng từ sớm, một trong những đảng viên lớp đầu. 1931 là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ, bị bắt ở Hải Phòng, giam ở Hoả Lò, Sơn La, Côn Đảo đến 1936. 1937 Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, rồi vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. 1940 bị bắt đày đi Côn Đảo, sau Cách mạng tháng Tám ông ra Hà Nội và được Trung ương Đảng cử trở về lãnh đạo kháng chiến ở Nam Bộ. 1951 được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. 1954 Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Từ đại hội III (1960) đến đại hội V của Đảng (1982) liên tục được bầu làm Bí thư thứ nhất, rồi Tổng bí thư của Đảng trong 26 năm liền. Ông còn là đại biểu Quốc hội từ khoá II đến khoá VII. Ông đã đề xuất được nhiều vấn đề cơ bản về đường lối cách mạng chống Mỹ cứu nước. Mất tại Hà Nội ngày 10-7-1986.

LÊ ĐẠI HÀNH

Phố: dài 450m; từ cuối phố Thể Giao đến đầu đường Đại Cồ Việt giáp Ô Cầu Dền, cắt ngang qua phố Bà Triệu.

Đất hai thôn Hậu Phong Vân và Long Hồ (sau nhập thành Vân Hồ), tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng.

Thời Pháp thuộc là phố Hoàng Cao Khải. Sau Cách mạng mang tên này.

Ngõ: ở phố cùng tên, cạnh số nhà 20 rẽ vào, thông sang phố Thái Phiên, nơi đây xưa có đàn Nam Giao dựng từ thời Lê, hằng năm vua tới tế trời đất.

Lê Đại Hành: tức Lê Hoàn (941 – l005): sinh tại làng Trung Lập, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá, một tướng giỏi, được triều Đinh phong chức Thập đạo Tướng quân. Năm 979, vua Đinh Tiên Hoàng mất, ông phò vua Đinh Toàn mới 6 tuổi, trông coi việc nước. Quân Tống sang xâm lược, thái Hậu họ Dương và triều đình tôn ông lên làm vua để đánh giặc. Sử sách gọi là Đại Hành hoàng đế (980 -1005), chỉ huy quân dân đánh giặc Tống, lập công lớn ở Chi Lăng và Bạch Đằng (981), buộc nhà Tống phải công nhận chủ quyền nước ta: nước Đại Cồ Việt với kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình).

 

LÊ ĐỨC THỌ

Đường: dài 2km; từ đường Hồ Tùng Mậu (Đường 32 Hà Nội - Sơn Tây) chỗ trạm xăng dầu Mai Dịch đi vào tới cửa Sân vận động quốc gia Mỹ Đình. Đường mới mở khi xây dựng sân vận động này năm 2003. Đất xã Mai Dịch và xã Mỹ Đình huyện Từ Liêm trước, nay thuộc phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy và xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm.

Tên mới đặt tháng 2-2003.

Lê Đức Thọ (1911 -1990): tên chính là Phan Đình Khải, người làng Dịch Lễ, huyện Mỹ Lộc - nay thuộc xã Nam Vânthành phố Nam Định. Ông tham gia hoạt độngcách mạng rất sớm, vào Đảng Cộng sản Đông Dương, bị Phápbắt tù đày ở Côn Đảo, Hoả Lò, Sơn La, Hoà Bình… Cuối năm1944 ra tù, ông tham gia phát động cao trào cách mạng tiến tớiTổng khởi nghĩa. Kháng chiến toàn quốc, từ 1948 đến 1954ông công tác ở miền Nam, giữ cương vị chủ chốt trong Xứ ủyNam Bộ. Trung ương Cục miền Nam, 1955 ông tập kết ra Bắc,được bổ sung vào Bộ Chính trị, phụ trách công tác tổ chức củaTrung ương Đảng, Giám đốc trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, tham gia Quân ủy Trung ương. Sau một thời gian trở lại miềnNam công tác, năm 1968 ông là cố vấn đặc biệt của phái đoànChính phủ ta tại Hội nghị Paris, tiến tới ký hiệp định với Mỹgiải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam. Năm 1975, ông vào Nam tham giachỉ đạo cuộc Tổng tiến công mùa xuân và chiến dịch Hồ ChíMinh. Đất nước thống nhất, ông vẫn giữ những chức vụ quantrọng của Đảng. Từ 1986 được cử làm Cố vấn Ban Chấp hànhTrung ương Đảng. Được thưởng Huân chương sao vàng

LÊ GIA ĐỈNH

Phố: dài 350m, từ phố Đồng Nhân, qua khu tập thể Nguyễn Công Trứ, lượn khúc tới phố Thịnh Yên, chạy phía sau đền Hai Bà Trưng.

Đất các thôn Hoa Viên, Cảm Ứng, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Trước đây, phố thông sang Nguyễn Công Trứ, đoạn đầu giờ không còn lối đi.

Nay thuộc phường phố Huế, quận Hai Bà Trưng.

Thời Pháp thuộc là đường 336 (voie 336).

Tên mới đặt năm 1994  là Lê Gia Định. Tháng 1-1999 chỉnh lý lại cho chính xác là Lê Gia Đỉnh.

Lê Gia Đỉnh (1920 -1946): là chính trị viên đại đội Trung đoàn Thủ đô, chiến sĩ Quyết tử quân Hà Nội, quê xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; tham gia trận chiến đấu ác liệt bảo vệ Bắc Bộ Phủ đêm 19-12-1946 và hy sinh anh dũng tại đây vào ngày hôm sau, sau khi đánh lui nhiều đợt tiến công của quân Pháp. Lê Gia Đỉnh được mệnh danh là “Quyết tử quân số 1” của Thủ đô. Truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (4-2000).

 

LÊ HỒNG PHONG

Phố: dài 730m, từ góc đường Hoàng Diệu - Điện Biên Phủ đến phố Ngọc Hà, cắt ngang qua các phố: Chu Văn An, Hùng Vương, Ông Ích Khiêm. Đất nội thành Thăng Long thời Nguyễn.

Nay thuộc phường Điện Biên, quận Ba Đình.

Thời Pháp thuộc là đại lộ Giôvaninely (Boulevard Giovaninelly).

Sau Cách mạng gọi là phố Tôn Trung Sơn. Thời tạm chiếm: đại lộ Tôn Thất Thuyết. Từ 1964 mang tên này.

Lê Hồng Phong (1902 -1942): tên thật là Lê Huy Doãn, người xã Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia cách mạng từ 1924, được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu học trường Quân sự Hoàng phố - Trung Quốc, tốt nghiệp sĩ quan lục quân, sang Liên Xô học trường Không quân Lêningơrát, Đại học Phương Đông, phụ trách Ban Hải ngoại của Đảng, đại biểu dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (1935), được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Tại Đại hội I Đảng Cộng sản Đông Dương ông được cử vào Ban Chấp hành Trung ương. Về Sài Gòn lãnh đạo phong trào, bị địch bắt (1938), ông bị đày ra Côn Đảo và mất tại đó ngày 6-9-1942.

 

LÊ LAI

Phố: dài hơn 400m; từ đường Trần Quang Khải đến phố Đinh Tiên Hoàng, chạy cắt ngang qua ngã sáu Lý Thái Tố - Ngô Quyền cạnh vườn hoa Chí Linh cũ, (nay là vườn Lý Thái Tổ), qua trước trụ sở Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố (cửa bên).

Đất thôn Vọng Hà, tổng Tả Túc và Hậu Bi, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Lý Thái Tổ và phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là hai phố:

- Đoạn đầu là phố Bonnua (rue Bonnhour).

- Đoạn sau: phố Đôminê (rue Dominé).

Sau Cách mạng nhập làm một, mang tên này.

Lê Lai (? - 1418): người làng Dựng Tú, nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá. Năm 1416 theo Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn tại Hội thề Lũng Nhai. Năm 1418, quân Minh bao vây chặt nghĩa quân ở vùng núi Chí Linh (Thanh Hoá), Lê Lai đã tình nguyện cải trang làm Lê Lợi, xông ra trận tiền để giặc bắt và giết đi, nhờ vậy Lê Lợi thoát nạn hiểm, tiếp tục mưu đồ nghiệp lớn. Đất nước toàn thắng Lê Lợi lên ngôi vua, truy phong ông là Thái úy “đệ nhất công thần”.

 

LÊ NGỌC HÂN

Phố: dài 180m, từ đầu phố Trần Xuân Soạn đến phố Hoà Mã.

Đất thôn Hoa Viên, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Luyrô (Rue Luro). Sau Cách mạng: phố Lữ Gia. Từ 1979 mang tên này.

Lê Ngọc Hân (1770 -1799): Công chúa út con vua Lê Hiển Tông với bà phi Nguyễn Thị Huyền - người làng Nành (Gia Lâm). Năm 1786, Nguyễn Huệ ra Bắc phù Lê diệt Trịnh, nhà vua cảm kích gả công chúa cho. Hôn lễ tổ chức trọng thể vào mùa thu năm Bính Ngọ. Ba năm sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, vua Quang Trung mất (1792) bà mới 22 tuổi, bằng tấm lòng tiếc thương vô hạn người chồng anh hùng, đầy võ công hiển vinh, bà đã viết khúc ca dài Ai tư vãn  để lại một áng văn hay cho đời. Bà và hai con sau đều bị nhà Nguyễn Gia Long sát hại.

 

LÊ NHƯ HỔ

Phố: dài gần 200m; từ phố Nguyễn Thái Học rẽ vào ngoặt theo cạnh phía bắc sân vận động Hà Nội (sân Hàng Đẫy) đến phố Trịnh Hoài Đức. Khi xây dựng lại, phố này hoá thành con đường vào các cửa phía sau “gôn” hướng bắc mà thôi.

Đất thôn Cổ Thành, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ, nay thuộc phường Cát Linh, quận Đống Đa.

Thời Pháp thuộc gọi là đường 203 (voie 203).

Lê Như Hổ (1511 -1581): người làng Vông, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, có dáng vóc to lớn và ăn khoẻ như cọp. Ông đỗ tiến sĩ năm 1541, làm quan triều Mạc, từng đi sứ Trung Quốc, tài trí ứng đáp hơn người. Lê Như Hổ được phong tước hầu, hàm Thiếu bảo, sau thăng Tuấn quận công. Lúc mất, vua Minh sai sứ sang viếng và ban cho áo quan bằng đồng.

 

LÊ PHỤNG HIỂU

Phố: dài 330m; từ đường Trần Quang Khải đến phố Ngô Quyền, cạnh vườn Diên Hồng (tên dân gian: Vườn hoa Con Cóc) và khách sạn Mêtơrôpôn, trước cổng Bắc Bộ Phủ cũ, nay là nhà khách Chính phủ, cắt ngang phố Tông Đản và Lý Thái Tổ.

Đất thôn Vọng Hà, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là phố Tướng Lơcơlănggiê (rue Général Lectanger).

Lê Phụng Hiểu (thế kỷ XI): người làng Băng Sơn, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, một danh tướng của vua Lý Thái Tổ. Khi nhà vua mất, ba người con tranh ngôi của thái tử Phật Mã, nổi dậy bao vây kinh thành. Ông đã chỉ huy quân sĩ dẹp yên “loạn tam vương”, đưa thái tử Phật Mã lên ngôi là Lý Thái Tông (1028 -1054).

LÊ QUANG ĐẠO

Đường: dài 2km; từ cửa Sân vận động quốc gia Mỹ Đình đến ngã ba tiếp nối với đường Láng - Hòa Lạc trên đất xã Mỹ Đình và Mễ Trì, huyện Từ Liêm.

Lê Quang Đạo (1921-1999): tên thật là Nguyễn Đức Nguyện, sinh tại Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh. Tham gia cách mạng từ 1938, vào Đảng Cộng sản năm 1940, từng là Bí thư chi bộ Đình Bảng, Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, chính trị viên chi đội Giải phóng quân Bắc Giang, tham gia Tổng khởi nghĩa ở Bắc Giang. Từ 1945 - 1950 làm Bí thư Thành ủy Hà Nội, Hải Phòng, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư liên tỉnh Ủy Hà Nội - Hà Đông, Thường vụ liên khu Ủy Khu III. Phó ban Tuyên huấn Trung ương. 1950 -1976 công tác trong quân đội, làm Cục trưởng Cục Quân huấn, Phó chủ nhiệm chiến dịch Điện Biên Phủ, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chính Ủy chiến dịch đường 9, Bí thư - chính Ủy mặt trận giải phóng Quảng Trị. Ông được phong quân hàm trung tướng, Bí thư Trung ương Đảng khóa IV, V, Ủy viên Trung ương Đảng khóa VI, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương. 1987 ông là Chủ tịch Quốc hội, Phó chủ tịch Hội đồng nhà nước. 1988 Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc. 1994 Chủ tịch đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhà nước ta tặng Huân chương Hồ Chí Minh, truy tặng Huân chương Sao Vàng (2001).

 

LÊ QUÝ ĐÔN

Phố: dài gần 210m, từ đường Trần Khánh Dư đến phố Nguyễn Cao.

Đất phường Yên Xá, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng.

Thời Pháp thuộc: phố Mácxen Lêgiê (rue Marcel Léger).

Sau Cách mạng: phố Ấu Triệu. Thời tạm chiếm: mang tên này.

Lê Quý Đôn (1726 -1784): tên thật là Lê Danh Phương, hiệu Quế đường, người làng Phú Hậu, huyện Duyên Hà, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Đỗ bảng nhãn, vào làm ở Hàn lâm viện, được giao soạn quốc sử. Năm 1760  đi sứ Trung Quốc. 1767 chúa Trịnh phong chức Bồi tụng, làm Hiệp trấn Nghệ An, rồi về triều giữ chức Thượng thư bộ Công. Ông là nhà bác học, nhà văn hoá lớn, để lại nhiều tác phẩm giá trị về văn, sử, triết, kinh tế, địa lý...như Phủ biên tạp lục, Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục,  Đại Việt thông sử... mang tính bách khoa toàn thư.

LÊ THẠCH

Phố: dài 230m; từ phố Ngô Quyền đến phố Đinh Tiên Hoàng, theo cạnh nam vườn hoa Chí Linh cũ (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ). Phố không có nhà dân, một bên vườn hoa, một bên là công sở: Nhà khách Chính phủ và Bưu điện Hà Nội.

Đất thôn Hậu Lâu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là đường Savaxiơ (avenue Chavassieux).

Lê Thạch (? -1421): người Tam Sơn, tỉnh Thanh Hoá, gọi Lê Lợi bằng chú, theo nghĩa quân từ khởi đầu (1418), từng đánh thắng Mã Kỳ ở Nga Lạc. Hy sinh trong một trận chống lại tên tù trưởng Ai Lao phản bội (1421).

LÊ THÁI TỔ

Phố: dài 685m; từ quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục - nhà Thủy Tạ, chạy vòng theo bờ tây hồ Gươm: đến đầu phố Bà Triệu - Tràng Thi, qua toà báo Hà Nội Mới.

Đất các thôn Khánh Thụy (Tả, Hữu), Tự Tháp, Phúc phố, Tô Mộc đều thuộc tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nhà số 16 có đài tưởng niệm Lê Thái Tổ, tượng bằng đồng, đặt trên cột bệ đá cao dựng năm 1896, di tích đã xếp hạng năm 1995.

Nay thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là hai phố:

- Đoạn đầu (đến chạc ba Hàng Trống): phố Bôsăm (rue Beauchamp).

- Đoạn sau: phố Hàng Trống kéo dài (rue Jules Ferry).

Cho nên “bót” cảnh sát ở cuối phố này có tên dân gian là“bót Hàng Trống” - nay là Công an quận Hoàn Kiếm.

Sau Cách mạng: phố Bờ Hồ.

Từ thời tạm chiếm là phố Lê Thái Tổ.

Lê Thái Tổ (1385 -1433): tức Lê Lợi người Lam Sơn, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, dựng cờ khởi nghĩanăm 1418, chống quân Minh ròng rã 10 năm mới giành toànthắng, giải phóng Đông Quan (Thăng Long), lập lại nền tự chủ, lên ngôi vua, miếu hiệu là Lê Thái Tổ, sáng lập ra triều Lê năm 1428 và đưa chế độ phong kiến Việt Nam lên bướcphát triển mới thịnh vượng. Ông cũng là nhân vật trả kiếm chorùa thần trong truyền thuyết về hồ Hoàn Kiếm.

LÊ THANH NGHỊ

Phố: dài 1km, từ phố Bạch Mai, chỗ ngã tư với phố Thanh Nhàn, chạy qua khu Đại học Bách Khoa đến đường Giải Phóng.

Đất phường Hồng Mai và xã Phương Liệt trước đây, nay thuộc các phường Bạch Mai, Bách Khoa và Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng. Phố mới mở vào năm cuối thế kỷ XX và được đặt tên này tháng l-2002.

Lê Thanh Nghị (1911 -1989): tên chính là Nguyễn Khắc Xứng, người làng Thượng Cốc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, làm thợ điện ở Hải Phòng, Hòn Gai. Năm 1928  tham gia đấu tranh của công nhân mỏ, vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. 1930 bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo. 1936 ra tù, xây dựng nghiệp đoàn ở Hà Nội, được cử vào Thành ủy, công tác ở Xứ ủy Bắc Kỳ. 1940 lại bị bắt đày đi Sơn La. Đầu năm 1945 về Hà Nội tham gia Thường vụ Xứ ủy, Ủy ban quân sự Bắc Kỳ, chỉ đạo chiến khu II. Sau Cách mạng, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng: lãnh đạo liên khu III, Chánh văn phòng Trung ương Đảng, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II, Ủy viên Bộ Chính trị (1956 - 1976), khoá III, khoá IV,  phụ trách Ban Công nghiệp và Thường trực Ban Bí thư, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Nhà nước. Ông là đại biểu Quốc hội từ khoá II đến khoá VI.

LÊ THÁNH TÔNG

Phố: dài gần 560m; từ quảng trường Cách mạng Tháng Tám trước mặt nhà hát Thành phố, đến phố Trần Hưng Đạo, chỗ ngã năm với phố Hàn Thuyên, Trần Thánh Tông... Vốn là bức tường bao phía đông toà thành đất của Thăng Long xưa.

Nay thuộc phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là đại lộ Bôbiô (Boulevard Bobillot).

Lê Thánh Tông (1442 -1497): tên thật là Tư Thành, con thứ tư của vua Lê Thái Tông với bà phi Ngô Thị Ngọc Dao, sinh ra ở điện Huy Văn, sau được đưa lên làm vua, mở ra thời Hồng Đức thịnh trị nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông cho lập bia tiến sĩ ở Văn Miếu, vẽ bản đồ cả nước, làm quốc sử, thực hiện các chính sách khuyến nông, khuyến học. Ông còn là nhà thơ, chủ súy hội thơ Tao Đàn nổi tiếng, để lại nhiều thơ chữ Hán, Nôm được truyền tụng. Ông làm vua được 38 năm.

LÊ TRỌNG TẤN

Phố: dài 900m; từ đường Trường Chinh - cạnh Bảo tàng Không quân - đi bên đường băng sân bay Bạch Mai cũ vào tới hết khu vực sân bay, gặp đường bờ tây sông Lừ.

Đất phường Hồng Mai, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ và làng Khương Trung, huyện Thanh Trì. Năm 1920, thực dân Pháp lập sân bay quân sự trên cánh đồng Khương Trung. Sau hoà bình, sân bay thu hẹp dần, đất trở thành phố của các gia đình bộ đội. Có 26 ngõ từ phố này rẽ vào các khu nhà ở.

Nay thuộc phường Khương Mai, quận Thanh Xuân.

Trước khi có tên chính thức, dân tự đặt là đường Sân Bay.

Tên mới đặt tháng 1-1998.

Lê Trọng Tấn (1914 -1986): Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, người xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Đông, Hà Nội). Ông sinh trong một gia đình nhà nho yêu nước, hoạt động cách mạng từ 1944, tham gia khởi nghĩa ở Hà Đông 8-1945. Trong kháng chiến chống Pháp từng chỉ huy khu 14, liên khu 10, giải phóng Đông Khê, Biên giới, Điện Biên Phủ. 1958 là Hiệu trưởng trường Sĩ quan Lục quân. 1961 là Thiếu tướng, Phó tổng Tham mưu trưởng. 1964 vào Nam là Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang miền Nam. 1975 tham gia chỉ huy giải phóng Huế - Đà Nẵng, Tư lệnh cánh quân phía đông giải phóng Sài Gòn. 1984 là Đại tướng. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng, Thường vụ Đảng ủy quân sự Trung ươngMất ngày 5 -12-1986. Một đại tướng tài đức được quân đội và nhân dân tin yêu.

 

LÊ TRỰC

Phố: dài gần 200m; từ phố Sơn Tây đến phố Nguyễn Thái Học.

Đất cũ của đồn Hữu Quân, thôn Thanh Ninh, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận.

Nay thuộc phường Điện Biên, quận Ba Đình.

Góc vườn hoa giáp phố Sơn Tây có chùa Am Cây Đề còn gọi Thanh Ninh tự. Di tích xếp hạng năm 1989. Một máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời Hà Nội đã bị bắn rơi ở đây ngày 19 tháng 5 năm 1967.

Thời Pháp thuộc là phố Tướng Lơbơloa (rue Général Lebloie).

Từ sau Cách mạng mang tên này.

Lê Trực (Thế kỷ XIX): người làng Thanh Thủy, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. 1882 làm Đề đốc Hà Nội, bị Pháp đánh thành, ông không giữ được Cửa Tây, phải rút quân lên Sơn Tây và bị triệu hồi. Sau tham gia phong trào Cần Vương, cùng Nguyễn Phạm Tuân khởi binh ở Quảng Bình cho đến khi vua Hàm Nghi bị bắt (1888), ông giải tán nghĩa binh, lui về sống ẩn ở quê nhà.

 

LÊ VĂN HƯU

Phố: dài hơn 360m; từ ngã năm Lò Đúc đến ngã tư phố Huế - Nguyễn Du, cắt ngang phố Ngô Thì Nhậm.

Đất thôn Tràng Khánh, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng.

Thời Pháp thuộc gọi phố Lavơlăng (rue Laveran).

Từ sau Cách mạng mang tên này.

Ngõ: Trong phố có 3 ngõ cùng tên:

- Ngõ Lê Văn Hưu 1: cạnh số nhà 12 rẽ vào, có tên cũ là xóm Bảo Hưng (cité Bảo Hưng).

- Ngõ Lê Văn Hưu 2: cạnh số 61 rẽ vào, trước có tên xóm Khang An (cité Khang An).

Ngõ Lê Văn Hưu 3: cạnh số 88 rẽ vào, thời Pháp thuộc là xóm Tràng Khánh (cité Tràng Khánh), sau Cách mạng đổi tên là ngõ Cổ Am.

Lê Văn Hưu (1230 -1322): nhà văn hoá, nhà sử học nổi tiếng. Ông người làng phủ Lý Trung, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Đỗ bảng nhãn năm 1247, làm Thị độc Hàn lâm viện, Giám tu Quốc sử quán, Thượng thư bộ Binh. Ông từng là thầy dạy học của Trần Quang Khải. Tác giả nhiều tác phẩm, trong đó có bộ lịch sử: Đại Việt sử ký - biên soạn lần đầu ở nước ta (1272) đời Trần Thánh Tông.

 

LÊ VĂN LINH

Phố: dài 65m; từ phố Phùng Hưng đến phố Lý Nam Đế.

Vốn là dãy hào chạy dọc tường phía đông thành cổ, bị lấp đi.

Nay thuộc phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là phố Tướng Nôgrét (Rue Général Nogrès).

Lê Văn Linh (1377 - 1448): người xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá; có tài văn chương, theo Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn. Ông là một trong những công thần mở nước ở triều Lê.

 

LÊ VĂN LƯƠNG

Đường: dài 1,52km; từ cầu Hòa Mục nối phố Láng Hạ đến đường Khuất Duy Tiến.

Đất xã Trung Hòa và xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm trước đây.

Nay là phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy và phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân. Tên mới đặt tháng 8-2005.

Lê Văn Lương (1914 - 1996): tên thật là Nguyễn Công Miều, một cán bộ cách mạng tiền bối. Ông sinh ra trong một gia đình nho học ở Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên. 1927 gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, 1930 vào Đảng Cộng sản, 1931 ông bị Pháp bắt kết án tử hình, nhờ can thiệp của Quốc tế đỏ, được giảm xuống khổ sai chung thân, đày ra Côn Đảo, ông tiếp tục đấu tranh, được cử vào Đảng bộ nhà tù. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, ông về Nam Bộ, tham gia Ủy viên dự khuyết Xứ ủy. Đầu năm 1946, ông ra Hà Nội phụ trách báo Sự thật và Nhà xuất bản Sự thật. Ông lần lượt giữ các chức vụ sau: năm 1947, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng; 1948, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Giám đốc trường Nguyễn Ái Quốc; 1951, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị; 1954, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; 1976, Ủy viên Bộ Chính trí, Bí thư Thành ủy Hà Nội ba khóa liền (1976 -1985), được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng. Ông là em nhà văn Nguyễn Công Hoan.

 

LÊ VĂN THIÊM

Phố: dài 700m, từ đường Lê Văn Lương đến số 27 đường Nguyễn Huy Tưởng, phường Nhân Chính và Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân. Tên mới đặt:12-2006.

Lê Văn Thiêm (1918 -1991) sinh tại xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông là người Việt đầu tiên đỗ tiến sĩ toán ở Pháp và làm giáo sư toán ở Đại học Zurích, Thụy Sĩ (1948). 1949, ông về nước tham gia kháng chiến theo lời khuyên của Hồ Chủ tịch, ra Việt Bắc lập trường Khoa học cơ bản, trường Sư phạm cao cấp và là hiệu trưởng hai trường này. Từ 1954, ông là Giám đốc trường Đại học Sư phạm khoa học Hà Nội rồi lần lượt là Hiệu phó trường Đại học tổng hợp Hà Nội kiêm Chủ nhiệm khoa toán, thành lập và làm Viện trưởng Viện Toán học. Ông là tác giả của trên 30 công trình khoa học về toán lý được trong nước và quốc tế công nhận. Giáo sư Lê Văn Thiêm còn là đại biểu Quốc hội khoá II và III, Ủy viên Ủy ban Khoa học nhà nước, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam. Năm 1996, ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

 

LỆ MẬT

Phố: dài 800m; từ Công ty Minco qua Ủy ban nhân dân phường Việt Hưng đến chùa Lệ Mật. Đất xã Việt Hưng, huyện Gia Lâm trước. Nay thuộc phường Việt Hưng, quận Long Biên. Tên mới đặt tháng 8-2005.

Lệ Mật là một làng thuộc tổng Gia Thụy, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh trước Cách mạng. Sau nhập 4 làng: Kim Quan Thượng, Ô Cách, Trường Lâm, Lệ Mật lập thành xã Việt Hưng. 1961 nhập vào ngoại thành Hà Nội. Năm 2004 lập quận Long Biên, Việt Hưng trở thành phường. Làng cổ Lệ Mật có từ thời Lý, thờ dũng sĩ họ Hoàng vốn là người làng, có công vớt được xác công chúa con vua Lý Nhân Tông chết đuối ở sông Thiên Đức, sau được vua cho phép đem dân làng sang kinh thành lập nên Thập tam trại ở phía tây Thăng Long. Đình Lệ Mật đã được xếp hạng di tích quốc gia, hàng năm mở hội ngày 23 tháng 3 âm lịch, có tục múa rắn nhắc lại chiến công xưa của dũng sĩ họ Hoàng.

LỆNH CƯ

Ngõ: ở phố Khâm Thiên, cạnh số nhà 127 rẽ vào, có lối thông sang ngõ Thổ Quan.

Đất thôn Quan Trạm, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Thổ Quan, quận Đống Đa.

Nguồn gốc lên này do trong ngõ có khu “Ống Lệnh”, tương truyền là nơi phát lệnh chiến đấu của ba tướng họ Đào, thời Hai Bà Trưng chống quân Hán.

Thời Pháp thuộc còn có tên là ngõ Đội Khánh, tên một người có nhiều nhà đất ở đây.

 

LIÊN HOA

Ngõ: ở phố Khâm Thiên (cạnh số nhà 142 rẽ vào), mang tên ngôi chùa Liên Hoa (tên chữ là Thiên Bảo tự) ở trong ngõ, thông sang ngõ Văn Chương.

Đất thôn Linh quang, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Khâm Thiên, quận Đống Đa.

 

LIÊN MẠC

Đường: dài 3,5 m; là đoạn đường đê hữu ngạn sông Hồng từ cống Chèm, xã Thụy Phương, đến dốc Kẻ trên địa bàn xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm. Tên mới đặt 2007.

Liên Mạc có 3 thôn: Đại Cát, Hoàng Liên và Yên Nội, nằm cạnh sông Hồng bên hữu ngạn. Trước 1945 thuộc tổng Hạ Trì, phủ Hoài Đức, Hà Đông. Sau là xã Tân Tiến, huyện Đan Phượng. 1961 nhập vào huyện Từ Liêm, Hà Nội. 1964 đổi tên là xã Liên Mạc.

 

LIÊN TRÌ

Phố: dài 250m; từ phố Nguyễn Du (cạnh phía bắc hồ Thiền Quang rẽ vào), cắt ngang các phố Nguyễn Gia Thiều, Trần Quốc Toản. Phố cộc, có một ngách ngang ngắn. Mang tên ngôi chùa xưa ở đây, nay không còn. Đất thôn Liên Thủy, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là hai phố, Ngõ:

- Đoạn đầu (đến Trần Quốc Toản): phố Barôna (rue Barona).

- Đoạn cộc vào trong: ngõ Trạng Trình.

Sau Cách mạng lấy tên này.

Ngõ: ở cuối phố Liên Trì, đoạn đường nhỏ hơn, ngõ cộc.

LIÊN VIỆT

Ngõ: ở phố Tây Sơn (cạnh số nhà 181 rẽ vào).

Đất trại Nam Đồng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ.

Nay thuộc phường Nam Đồng, quận Đống Đa.

Trước còn gọi ngõ Nền Than (do lấp hồ bằng xỉ than, lập thành ngõ).

 

LIỄU GIAI

Đường: dài 730m; từ phố Đội Cấn đến phố Kim Mã, còn đoạn kéo dài tiếp đến phố Giảng Võ (1997), sau nhập với Láng Trung thành phố Nguyễn Chí Thanh (1998).

Liễu Giai là địa danh của một trong Thập tam trại ở đây.Đất các thôn Liễu Giai, Cống Vị, Kim Mã, Thủ Lệ đều thuộc tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận cũ. Đền Liễu Giai thờ ông Hoàng Lệ Mật được xếp hạng di tích lịch sử năm 1990.

Nay thuộc các phường Cống Vị, Ngọc Khánh, quận Ba Đình.

Tên mới đặt năm 1994.

LINH LANG

Phố: dài 600m; từ phố Đội Cấn đến Cục Lưu trữ nhà nước, gặp phố Nguyễn Văn Ngọc và Phan Kế Bính.

Đất trại Vạn Phúc, thuộc khu Thập tam trại cũ. Đoạn đầu phố này, năm 1995  đã đặt tên là Kim Mã Thượng, nối với đoạnthước thợ rẽ sang phố Liễu GiaiTháng 1-1999, Hội đồng nhân dân thành phố điều chỉnh lại, cắt đoạn đầu nối dài thẳng ra, lập phố mới tên Linh Lang, đi qua khu tập thể Cống Vị. Nay thuộc phường Cống Vị, quận Ba Đình.

Linh Lang là thần trấn phía tây kinh thành Thăng Long, thờ ở đền Voi Phục, trại Thủ Lệ gần đấy. Tương truyền đây là thái tử Hoằng Chân, con vua Lý Thái Tông (1028 -1054) do một bà phi người làng Bồng Lai (Đan Phượng) sinh ra. Ông có công dẹp giặc Tống. Vua toan nhường ngôi cho, ông từ chối vềở trại Chợ (Thủ Lệ) rồi hoá thành rồng đen bò xuống hồ Tây biến mất.

LINH ỨNG

Ngõ: ở phố Khâm Thiên, cạnh số nhà 290 rẽ vào, ngõ cộc ngắn, lối vào chùa Linh Ứng, di tích xếp hạng năm 1993.

Nay thuộc phường Thổ Quan, quận Đống Đa.

LĨNH NAM

Đường: dài 3,2km; từ đường Tam Trinh qua Ba Hàng tới dốc Lĩnh Nam, đê sông Hồng.

Đất các làng Mai Động, Vĩnh Tuy và Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì trước, sau Mai Động thành phường của quận Hai Bà Trưng.

Nay thuộc các phường Mai Động, Vĩnh Hưng, Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai (từ 2004).

Tên đường mới đặt năm 1988.

LÒ ĐÚC

Phố: dài gần 1,2km; từ cuối phố Phan Chu Trinh (chỗ ngã năm Lò Đúc - Hàm Long) đến đường Trần Khát Chân, nối với phố Kim Ngưu. Cuối phố này xưa có một cửa ô, gọi là Ô Đống Mác, hay Ông Mạc, sau đổi là Ô Lãng Yên. Phố có nhiều ngõ ở hai bên. Chạy qua đất nhiều thôn: Hữu Vọng, Hương Thái, Đức Bác, Yên Nội, Thọ Lão, Hoa Viên thuộc tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc các phường Phạm Đình Hổ, Đống Mác, quận Hai Bà Trưng. Phường đúc lập chùa Tổ ông thờ tổ nghề đúc đồng ở ngõ 79.

Thời Pháp thuộc: đoạn đầu là phố Lò Đúc, đoạn giữa gọi là Cây Đa Nhà Bò, đoạn sau lúc mới mở gọi là phố Lò Lợn (rue de I’Abattoire). Sau gọi chung là đại lộ Ácmăng Rútxô (boulevard Armand Rousseau).

Từ 1945 gọi tên dân gian này.

LÒ LỢN

Ngõ: ở cuối phố Bạch Mai, cạnh số 459 rẽ vào, bên chợ Mơ.

Vốn xưa có lò mổ lợn, đã bỏ từ lâu.

Nay thuộc phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng.

LÒ RÈN

Phố: dài gần 130m; từ phố Thuốc Bắc đến phố Hàng Gà, cắt ngang qua phố Hàng Đồng.

Đất thôn Tân Khai, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Đình Lò Rèn thờ tổ ở nhà số 1, do người làng Hoè Thị, xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm ra làm nghề xây nên.

Nay thuộc phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm.

Tên dân gian trước đây còn gọi Hàng Bừa hoặc Hàng Cuốc (vì bán các mặt hàng này).

Thời Pháp thuộc là phố Thợ Rèn (rue des Forgerons).

Sau Cách mạng vẫn mang tên này.

 

LÒ SŨ

Phố: dài 320m; từ đường Trần Quang Khải đến phố Đinh Tiên Hoàng (cạnh đền Bà Kiệu), cắt ngang qua ba ngã tư: Hàng Tre, Lý Thái Tổ, Hàng Dầu.

Đất các thôn Sơ Trang, Tả Lâu (tổng Tả Túc) và Nhiễm Thượng (tổng Hữu Túc), huyện Thọ Xương cũ. Xưa có nhiều hàng gỗ, bán áo quan mà thành tên.

Nay thuộc các phường Lý Thái Tổ và phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm.

Tên dân gian từ xưa.

Thời Pháp thuộc là phố Puiannơ (rue Pouyanne), sau lấy tên này.

 

LONG BIÊN I – II

Đường: dốc lên và dốc xuống đầu phía bắc cầu Long Biên, trên đất xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm cũ. Từ 2004 là quận Long Biên.

- Long Biên I là dốc lên, dài 390m, từ đường Ngọc Lâm tới cầu.

- Long Biên II là dốc xuống, dài 260m, từ cầu tới đường Ngọc Lâm.

Nay thuộc phường Ngọc Lâm, quận Long Biên.

Tên mới đặt tháng 7-1996.

 

LƯƠNG ĐỊNH CỦA

Phố: dài 710m; từ phố Phạm Ngọc Thạch cắt qua phố Phương Mai vào đến Công ty Giống cây trồng Trung ương 1.

Đất phường Kim Hoa và Hồng Mai, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc hai phường Kim Liên và Phương Mai, quận Đống Đa.

Tên mới đặt năm 1995 kéo dài thêm l50m tháng 7-2000. Thường gọi nhầm là Lương Đình Của.

Lương Định Của (1918 -1975): là nhà nông học Việt Nam hiện đại. Ông sinh ở Sóc Trăng, Nam Bộ, tốt nghiệp trường Đại học Tổng hợp Kyoto và Kiusiu, trở thành vị tiến sĩ thứ 96 của Nhật Bản. Sau hoà bình năm 1954, ông cùng gia đình về Sài Gòn làm ở Viện Nghiên cứu canh nông, rồi ra chiến khu Nam Bộ, tập kết ra Bắc.

Cả cuộc đời ông cống hiến cho sự nghiệp lai tạo một số giống lúa và giống cây trồng, làm Viện trưởng Viện Cây lương thực và thực phẩm, được phong Anh hùng lao động, mất ngày 28-1 2-1975 tại Hà Nội. Năm 1996 được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

 

LƯƠNG KHÁNH THIỆN

Phố: dài 400m; từ phố Nguyễn Đức Cảnh đến ngõ 147 phố Tân Mai. Đất thôn Giáp Lục, xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì trước; sau thuộc phường Tương Mai, quận Hai Bà Trưng,nay là quận Hoàng Mai.

Tên phố mới đặt tháng 7-2000.

Lương Khánh Thiện (1903 -1941): quê xã Liêm Chính, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. 1925 cùng Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt) vận động đòi ân xá Phan Bội Châu, rủ nhau bỏ trường Kỹ nghệ thực hành Hải Phòng. Ông về hoạt động trong phong trào của công nhân nhà máy sợi Nam Định, cảng Hải Phòng. 1929 được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo (1930 - 1936). Trở về Hà Nội tiếp tục hoạt động, chỉ đạo cuộc bãi công ở Nhà máy Xe lửa Gia Lâm (1938), được cử vào Xứ ủy Bắc Kỳ. 1939 – 1940, làm Bí thư Thành ủy Hải Phòng và phụ trách các tỉnh ven biển, vùng mỏ. Tháng 11 -1940, ông bị địch bắt, kết án tử hình và hành quyết ngày 1-7-1941 tại Kiến An. Ông là bậc liền bối cách mạng của Đảng.

LƯƠNG NGỌC QUYẾN

Phố: dài 320m; từ phố Nguyễn Hữu Huân đến phố Hàng Giày, cắt ngang qua các phố Mã Mây, Tạ Hiện. Đất thôn Ưu Nhất và Ngư Võng, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là hai phố:

- Đoạn đầu (đến Tạ Hiện): phố Galê (rue Galet).

- Đoạn sau: phố Nguyễn Khuyến.

Sau Cách mạng mang chung tên này.

Lương Ngọc Quyến (1885 -1917): hiệu Lập Nham, con cụ cử Lương Văn Can, người làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Ông hưởng ứng phong trào Đông Du, sang Nhật 1905 theo Phan Bội Châu, lập Việt Nam Quang phục hội ở Trung Quốc, bị bắt giải về Việt Nam, giam ở nhà lao Thái Nguyên. Ông liên lạc với Đội Cấn, làm cuộc binh biến khởi nghĩa Thái Nguyên đêm 30-8-1917. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, ông hy sinh ngày 5-9-1917 trong cuộc chiến.

 

LƯƠNG SỬ

Ngõ: tên chung cho ba ngõ A - B - C đều từ bên số lẻ phố Quốc Tử Giám rẽ vào làng Lương Sử, do nhập hai thôn Ngự Sử và Lương Sừ thuộc tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Ngõ Lương Sử A ở cạnh số 3 có lối thông sang Lương Sử B. Ngõ Lương Sử B ở cạnh số 29 rẽ vào (rộng nhất). Ngõ Lương Sử C ở cuối phố Ngô Sĩ Liên thông sang Linh Quang, ra phố Khâm Thiên và phố Tôn Đức Thắng.

Nay thuộc phường Văn Chương, quận Đống Đa.

Tên mới đặt sau năm 1954.

LƯƠNG THẾ VINH

Đường: dài trên 700m; từ ngã ba vào Đài Mễ Trì (xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm) đến đường Nguyễn Trãi.

Đất thôn Phùng Khoang, xã Trung Văn, huyện Từ Liêm.

Nay thuộc xã Trung Văn (huyện Từ Liêm) và phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân.

Tên mới đặt năm 1986.

Lương Thế Vinh (1442 - ?): tự Cảnh Nghị, người xã Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam (nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), đỗ trạng nguyên năm 1463. Ông là nhà văn hoá, nhà toán học nổi tiếng thời Hồng Đức (1470 -1497), đời Lê Thánh Tông, được dân quen gọi là Trạng Lường. Làm quan Hàn lâm viện thị giảng, giữ chức Sái phu trong hội Tao Đàn, ông để lại nhiều sách toán học, được coi như một tổ sư nghề toán ở nước ta.

 

LƯƠNG VĂN CAN

Phố: dài 300m; từ phố Hàng Bồ đến phố Lê Thái Tổ, cắt ngang qua phố Hàng Gai.

Đất thôn Tố Tịch và Yên Hoa, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Sau hai thôn Yên Hoa và Xuân Hoa hợp nhất thành Xuân Yên. Đình Xuân Yên còn ở số 6. Nay thuộc phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là phố Lê Quý Đôn (đoạn đầu đến phố Hàng Quạt trước đây mang tên chung với phố Hàng Quạt). Sau Cách mạng điều chỉnh lại và mang lên này.

Lương Văn Can (1854 - 1927): hiệu Ôn Như, nhà nho yêu nước, người làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội); đỗ cử nhân năm 1879, không ra làm quan, là một trong nhóm sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục, hoạt động được chín tháng thì bị đóng cửa. Năm 1914, Pháp viện cớ kết án ông 10 năm biệt xứ sang Nam Vang (Phnôm Pênh), đến 1921 đã phải thả. Ông mất tại nhà số 4 Hàng Đào, Hà Nội ngày 12-6-1927.

 

LƯƠNG YÊN

Phố: dài trên 500m; từ chỗ nối nhau của đường Trần Khánh Dư với đường Nguyễn Khoái (cạnh Nhà máy Xay Lương Yên) đi chéo đến đường Trần Khát Chân.

Vốn là một đoạn đê cũ trên đất thôn Lương Yên, do hợp nhất hai thôn Lương Xá và Yên Xá, tống Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng.

Thời Pháp thuộc là đường 159 (voie 159). Sau Cách mạng gọi đường Thúy Ái. Từ thời tạm chiếm mang tên này.

 

LƯU NHÂN CHÚ

Phố: dài 400m; từ quốc lộ 3 (đối diện cây xăng Nghĩa Bình) đi qua khu dân cư, trường mầm non, trường Trung học cơ sở thị trấn Sóc Sơn. Đặt tên tháng 6-2008.

Lưu Nhân Chú (? - 1433): danh tướng Lam Sơn, ông người xã Thuận Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Năm 1416 ông tham dự hội thề Lũng Nhai và cùng cha tham gia khởi nghĩa của Lê Lợi, giải phóng dân tộc. Ông là tướngchỉ huy đánh thắng trận Khả Lưu - Bồ Ải (1424) rồi cùng ĐinhLễ tiến quân ra Thanh Hóa bao vây thành Tây Đô (1425). Ông là một trong những tướng lập công lớn trong chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang tiêu diệt đạo quân Minh sang cứu viện Vương Thông bị bao vây trong thành Đông Quan, diệt tướng giặc Liễu Thăng. Lê Lợi đăng quang, ông được phong là Nhập nội Kiểm hiệu, Bình chương quân quốc trọng sự, giữ chức Nhập nội tư khấu và được ban quốc tính họ Lê. Năm 1433, ông bị bọn lộng thần ghen ghét ám hại bằng thuốc độc. Thời Hồng Đức vua Lê Thánh Tông minh oan, khôi phục danh tước và truy tặng ông hàm Thái phó, tước Vinh Quốc công.

LÝ ĐẠO THÀNH

Phố: dài 140m; từ phố Tông Đản chỗ gần Bảo tàng Cách mạng đến phố Lý Thái Tổ.

Đất thôn Hậu Lâu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là phố Đại úy La Brútxơ (rue Capitaine La Brousse). Sau Cách mạng: phố Nguyễn Thành Hiên. Từ thời tạm chiếm mang tên này.

Lý Đạo Thành (? - l081): người làng Cổ Pháp, huyện Đông Ngàn (nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Thái sư triều Lý Thánh Tông (1054 - l072), tính tình cương trực, có tài tổ chức, góp phần giúp Lý Thường Kiệt đánh thắng quân Tống xâm lược. Nổi tiếng vì trung thực trong phận vua tôi cũng như vì dân vì nước.

 

LÝ NAM ĐẾ

Phố: dài 1,lkm, từ phố Phan Đình Phùng đến phố Trần Phú, chạy theo chân tường phía đông thành Thăng Long thời Nguyễn.

Nay thuộc hai phường Hàng Mã và Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Tướng Gióp (rue Maréchal Joffre). Sau Cách mạng đặt tên này.

Lý Nam Đế (503 - 548): tức Lý Bí còn gọi Lý Bôn, người hương Thái Bình, trấn Sơn Tây. Ông khởi nghĩa năm 542, đánh đuổi quân thống trị nhà Lương, lên ngôi vua năm 544, xưng là Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (gần thành phố Bắc Ninh bây giờ). Năm sau, quân Lương sang đánh, ông chống không lại, lui về vùng hồ Điển Triệt (Lập Thạch, Vĩnh Phúc), và bị đánh tan, lánh vào động Khuất Liêu (Tam Nông) rồi mất.

LÝ QUỐC SƯ

Phố: dài 245m; từ phố Hàng Bông đến phố Nhà Thờ. Đất thôn Tiên Thị, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Chùa Lý triều Quốc Sư ở số nhà 50, xếp hạng di tích năm 1995 và đền Phù Ủng (thờ vọng Phạm Ngũ Lão) ở số 25, xếp hạng năm 1988. Nay thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Lămbơlô (Rue Lamblot).

Quốc sư triều Lý tên là Nguyễn Chí Thành (1066 -1141), người làng Điềm, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, tu đạo Phật, học trò Từ Đạo Hạnh, có pháp danh là Minh Không, đạo cao đức trọng, chữa được bệnh hiểm cho vua Lý Thần Tông nên được phong là Quốc sư (1138). Truyền thuyết coi ông là tổ sư nghề đúc đồng và có nhiều điểm đồng nhất với nhân vật Không Lộ.

LÝ THÁI TỔ

Phố: dài 880m; từ phố Lò Sũ đến phố Tràng Tiền (chỗ quảng trường 19-8), cắt ngang qua phố Trần Nguyễn Hãn, Ngô Quyền, Lê Lai, Lê Phụng Hiểu. Trên phố này có Cung Văn hoá thiếu nhi, Ngân hàng Quốc gia, Viện Văn học, Viện Ngôn ngữ.

Vốn là đoạn đê cũ của sông Hồng, ranh giới giữa các thôn Tả Lâu, Trừng Thanh Hạ Kiếm Hồ, Vọng Hà (tổng Tả Túc) với các thôn Nhiễm Thượng, Hậu Bi, Hậu Lâu (tổng Hữu Túc), huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Lý Thái Tổ và phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm.

Tên dân gian trước gọi là phố Hàng Vôi trong.

Thời Pháp thuộc: đại lộ Đô Đốc Cuốcbê (boulevard Amiral Courbet).

Sau Cách mạng 1945 mang lên này.

Lý Thái Tổ (974 - l028): tức Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp (nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh); mẹ họ Phạm, làm con nuôi nhà sư Lý Khánh Vân, học trò sư Vạn Hạnh. Ông làm Điện tiền Chỉ huy sứ đời vua Lê Ngọa Triều. Năm 1009, vua mất, triều đình tôn ông lên làm vua, miếu hiệu là Thái Tổ, mở đầu triều Lý kéo dài 9 đời vua gồm 216 năm. Năm 1010 dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, gặp điềm rồng vàng đón, nên đổi tên là thành Thăng Long.

Ông là người có công định đô, xây dựng, mở mang kinh thành, đặt nền móng cho Thăng Long, Thủ đô ngàn đời của đất nước.

 

LÝ THƯỜNG KIỆT

Phố: dài 1,73km; từ phố Lê Thánh Tông đến đường Lê Duẩn, cắt ngang qua các phố Phan Chu Trinh, Ngô Quyền, Hàng Bài, Bà Triệu, Quang Trung, Quán Sứ, Phan Bội Châu. Trên phố có Thư viện Khoa học số nhà 26 - nơi xưa là trường Viễn Đông Bác Cổ, Toà án nhân dân Tối cao ở số 48.

Đất của nhiều thôn: Hàm Châu (tổng Hậu Nghiêm), Vũ Thạch Hạ (tổng Tả Nghiêm), Nam Phụ, Nam Hưng (tổng Tiền Nghiêm), huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc các phường Phan Chu Trinh, Hàng Bài, Trần Hưng Đạo, Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc đặt tên là đại lộ Caro (boulevard Carreau)

Sau Cách mạng đổi tên này.

Ngõ: ở phố này, cạnh số nhà 67 rẽ vào, ngõ cộc. Thời Pháp thuộc có tên ngõ Căn Cước (lmpasse de L'Identité) do có khu nhà ở cho những người làm ở Sở Căn cước - nay là Sở Công an Thành phố Hà Nội.

Lý Thường Kiệt (1019 -1105): tên thật là Ngô Tuấn do có công lớn được vua ban cho họ Lý, người phường An Xá, trên bãi sông Hồng, sinh ở phường Thái Hoà (Vĩnh Phúc – Ba Đình). Từ một Hiệu úy kỵ mã, ông thành Thị vệ của vua Lý Thánh Tông, nổi tiếng tài giỏi, quán xuyến cung đình và võ nghệ tinh thông, giúp hoàng thái Hậu Ỷ Lan nhiếp chính vua Lý Nhân Tông khi còn nhỏ. Thấy giặc Tống có mưu đồ xâm lược, ông đề xuất chủ động đánh trước, tiêu diệt căn cứ xuất phát của địch ở ba châu: Ung, Khâm, Liêm (1075) giành thắng lợi lớn rồi rút quân về xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt chặn giặc, đánh tan quân Tống (1077). Tương truyền ông là tác giả bài Nam quốc sơn hà, được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.

 

LÝ VĂN PHỨC

Phố: dài 120m, cộc, ở phố Nguyễn Thái Học, cạnh số nhà 161 rẽ vào.

Đất thôn Cổ Thành, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Cát Linh, quận Đống Đa.

Thời Pháp thuộc là đường 204 (Voie 204). Từ thời tạm chiếm đổi tên này.

Lý Văn Phức (1785 -1849): người Việt gốc Hoa sinh ở làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận (nay là phường Bưởi, quận Tây Hồ); đỗ cử nhân năm 1819, làm quan thời Nguyễn; từng đi sứ và giao thương với nhiều nước châu Á. Nhà thơ, tác giả các chuyện nôm diễn ca: Nhị thập tứ hiếu, Ngọc Kiều Lê, Tây sương…

 

Theo Từ điển đường phố Hà Nội, Giang Quân, NXB Hà Nội, 2009, tr152-190

Bình luận