|| Phố phường Hà Nội Thứ 7, 20/07/2013 11:51 GMT+7

Các đường phố Hà Nội theo vần H

Các đường phố Hà Nội theo vần H
Cập nhật lúc 17/07/2009, 15:22 (GMT+7)

HÀ HỒI

Ngõ xóm: thông ra  ba phố phố Trần Hưng Đạo (cạnh số 75), Trần Quốc Toản (cạnh số 68), Quang Trung (cạnh số 20 và 26), lập thành một xóm có nhiều Ngạch.

Đất đồn Hậu Quân thời Nguyễn. Thời Pháp thuộc là xóm Giôrêghibery (citté Jauréguiberry). Sau Cách mạng gọi là xóm Hà Hồi.

Hà Hồi: tên làng thuộc huyện Thường Tín, cạnh đường thiên lý lai kinh cũ (nay thuộc quốc lộ lA) nơi quân Thanh đóng tiền đồn bảo vệ Thăng Long, đã bị quân Tây Sơn triệt phá đêm 28-1-1789, trên đường giải phóng kinh thành mùa xuân năm Kỷ Dậu.

Thường gọi nhầm là Hạ Hồi.

 

HÀ HUY TẬP

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Đường Hà Huy Tập (ảnh: Vũ Hưng)

Đường: dài 2,1km; từ ngã ba rẽ vào trường Trung học phổ thông thị trấn Yên Viên đến đầu cầu Đuống phía bắc. Đây vốn là đoạn quốc lộ 1 chạy dọc thị trấn Yên Viên, huyện Gia Lâm.

Tên mới đặt tháng 7-1999.

Hà Huy Tập (1902 -1941): chiến sĩ cộng sản tiền bối. Ông sinh tại Hà Tĩnh, tham gia cách mạng từ năm 1927, được theo học tại trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva, tham gia Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ nhất ở Ma Cao (3/1935) và được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng rồi Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1936, ông về Sài Gòn lãnh đạo phong trào cách mạng, tổ chức Hội nghị Trung ương mở rộng tại Bà Điểm – Gia Định (9-1937). Tháng 3-1938, ông bị Pháp bắt giam. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại (11-1940), ông bị Pháp bắt lần thứ hai, buộc tội âm mưu khởi nghĩa, chúng xử bắn ông và các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng như Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần… ngày 28-8-1941 tại Bà Điểm.

 

HÀ TRUNG

Phố: dài hơn 200m; từ phố Ngõ Trạm (gần cạnh trái chợ Hàng Da), chạy ngoặt ra phố Phùng Hưng. Xưa có trạm dịch chạy công văn Hà Trung (có nghĩa là trạm dịch của tỉnh Hà Nội ở thôn Yên Trung) lập thời Nguyễn (1832).

Đất thôn Yên Trung Hạ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Hà Trung (rue Hà Trung). Tên dân gian: Ngõ Trạm Hà Trung hoặc Ngõ Trạm cũ. Còn phố mới lập sau ở bên cạnh gọi là Ngõ Trạm.

Ngõ: ngõ cụt từ phố Phùng Hưng rẽ vào, chạy song song với phố Hà Trung.

 

HẠ ĐÌNH

Phố: dài 600m; từ đường Nguyễn Trãi, chạy qua trước Công ty Bóng Đèn – Phích nước Rạng Đông, Công ty May 40 đến Nhà máy nước Hạ Đình.

 Đất thôn Hạ Đình, xã Khương Đình, huyện Thanh Trì trước.

Nay thuộc phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân. Di tích trong phường có đình Vòng, xếp hạng năm 1993; chùa Tam Huyền và lăng Từ Vinh xếp hạng năm 1999.

Tên phố mới đặt năm 1990.

 

HAI BÀ TRƯNG

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hai Bà Trưng (ảnh: Sưu tầm trên Internet)

Phố: dài 1,67km; từ phố Lê Thành Tông đến ngã năm chợ Cửa Nam - đường Lê Duẩn, cắt ngang các phố Phan Chu Trinh, Ngô Quyền, Hàng Bài, Bà Triệu, Quang Trung, Quán Sứ, Phan Bội Châu.

Đất Cục Bảo Toàn, các thôn Hàng Bài, Vũ Thạch, tổng Tả Nghiêm, đồn Tả Quân và các thôn Bích Du, Yên Tập, Yên Trung, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Có di tích chùa Bích Lưu (số 64), chùa Thiên Phúc (số 94) – di tích xếp hạng năm 1998.

Nay thuộc các phường Tràng Tiền, Trần Hưng Đạo, Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là đại lộ Rôlăng (boulevard Rollandes).

 Sau Cách mạng đổi là phố Hai Bà Trưng.

 Hai Bà Trưng  tức Trưng Trắc và Trưng Nhị (14 - 43), nữ anh hùng dân tộc,  là hai chị em sinh đôi con Lạc tướng Mê Linh.

Hai Bà dựng cờ khởi nghĩa ở Hát Môn mùa xuân năm 40, đánh thủ phủ Luy Lâu của quân Hán thống trị, rồi thu lại 65 thành. Trưng Trắc lên làm vua,  lập đô ở Mê Linh (nay là xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội). Năm 42, Mã Viện đem quân sang đàn áp, Hai Bà chống lại không nổi, đã anh dũng tuẫn tiết ở Cấm Khê mùa xuân năm 43.

 

HÀI TƯỢNG

Ngõ: dài 160m; ở phố Tạ Hiện rẽ vào, trước đây còn thông với phố Hàng Giày, vốn là nơi cư ngụ và hành nghề của thợ đóng giày dép da người làng Chắm (Phong Lâm, Tứ Kỳ, Hải Dương) từ thế kỷ XVII - XVIII. Đất thôn Hài Tượng, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương,

Nay thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm.

Tên dân gian là ngõ Hàng Giày. Thời Pháp thuộc gọi ngõ Hài Tượng (ruelle Hài Tượng).

 

HÀM LONG

Phố: dài 560m; từ ngã năm Lò Đúc - Hàn Thuyên đến phố Bà Triệu, xuyên qua ngã tư phố Ngô Quyền - Ngô Thì Nhậm và cắt ngang phố Hàng Bài.

Đất thôn Hàm Châu, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Hàm Long là tên ngôi chùa cổ (còn gọi Hàm Châu tự, đã bị phá huỷ, nằm trong ngõ số 18). Ngôi chùa lớn này xây từ thế kỷ XVII, một trung tâm Phật giáo thời Lê. Cạnh đó, có nhà thờ Hàm Long xây năm 1905. Trong phố còn di tích cách mạng đã xếp hạng năm 1964: nhà số 5D, nơi thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên (tháng 3-1929). Nay thuộc các phường Phan Chu Trinh, Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là đại lộ Đuđa đờ Lagơtê (boulevard Doudard de Lagreé).

Ngõ: có ba ngõ cùng mang tên này kèm theo số 1- 2 - 3, trong đó có hai ngõ cộc, chỉ có Hàm Long 1 thông sang ngõ Lê Văn Hưu, có tên Pháp thuộc là xóm Thuận Đức (cité Thuận Đức), sau Cách mạng gọi là khu Nghĩa Lộ (cạnh số 13 rẽ vào). Ngõ Hàm Long 2 (cạnh số 23) thời Pháp thuộc là ngõ cộc Đức Khánh (Impasse Đức Khánh), sau Cách mạng đổi là ngõ Văn Thân. Ngõ Hàm Long 3 (cạnh số l0) có tên cũ là xóm Vĩnh Thái (cité Vĩnh Thái).

 

HÀM TỬ QUAN

 

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàm Tử Quan (ảnh: Vũ Hưng)

Phố: dài hơn 400m; từ bờ sông Hồng ngang qua đường Bạch Đằng đến đường Hồng Hà chạy cạnh đê đường Trần Quang Khải. Phố ngoài đê. Đất làng chài Thủy Cơ, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm.

Tên dân gian là phố Cầu Đất. Thời pháp thuộc: đê Phelonnô (digue Fellonneau); sau Cách mạng đặt tên phố Hàm Tử Quan.

Cửa Hàm Tử: một địa danh bên bờ trái sông Hồng, thuộc xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, Hưng Yên, nơi diễn ra trận thắng lớn chống quân Mông - Nguyên xâm lược vào đầu năm 1285 do tướng Trần Nhật Duật cầm binh.

 

HÀN THUYÊN

Phố:  dài 370m; từ ngã sáu phố Trần Hưng Đạo đến ngã năm phố Lò Đúc - Phan Chu Trinh, ngang qua ngã tư với phố Hàng Chuối - Phan Huy Chú.

Đất ven hồ Hữu Vọng, thuộc thôn Nhân Chiêu, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng.

Thời Pháp thuộc là phố pavi (rue Pavie).

Ngõ: ngõ cộc ở bên số lẻ phố này rẽ vào, thời Pháp thuộc gọi là ngõ cộc Pavi (impasse Pavie).

Hàn Thuyên: tên thật là Nguyễn Thuyên (thế kỷ XIII), người làng Lai Hạ, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương nay thuộc huyện Lang Tài, Bắc Ninh, đỗ thái học sinh năm l247, làm tới Thượng thư Bộ Hình. Nổi tiếng nhờ bài Văn tế cá sấu (còn có ý kiến cho là Văn tế cá sấu ở sông Lô) thời Trần Nhân Tông. Ông là người đi đầu làm thơ Nôm theo luật đường do Hàn Dũ khởi xướng ở Trung Quốc, nên được nhà vua cho đổi sang họ Hàn.

 

HÀNG BẠC

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàng Bạc (ảnh: Sưu tầm trên Internet)

Phố: dài 280m; từ cuối phố Hàng Mắm - ngã ba với phố Mã Mây, chạy ngang qua ngã tư với phố Tạ Hiện - Đinh Liệt, đến chỗ giáp ranh hai phố Hàng Đào - Hàng Ngang.

Đất phường Đông Các xưa, sau là các thôn Đông Thọ, Dũng Hãn, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nơi có nghề đúc bạc, làm kim hoàn và đổi tiền. Rạp hát Hàng Bạc ở số 74 có tên rạp Văn Lang (sau là Kim Chung, Chuông Vàng), nơi Quyết tử quân Liên khu 1 làm lễ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” ngày 14-1-1947, thời kỳ Hà Nội kháng chiến chống Pháp. Đình Kim Ngân thờ tổ nghề ở số 42.

Nay thuộc phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Những người Đổi Bạc (rue des Changeurs). Tên dân gian: phố Hàng Bạc, thành tên chính thức sau Cách mạng.

 

HÀNG BÀI

Phố: dài 620m; từ bờ hồ Gươm, cuối phố Đinh Tiên Hoàng đến ngã tư phố Huế - Hàm Long, cắt ngang qua các phố Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo.

Đất thôn Vũ Thạch, Hậu Lâu, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ, nơi xưa bán các loại bài lá.

Thời Pháp thuộc là đại lộ Đồng Khánh (boulevard Đồng Khánh), sau Cách mạng gọi phố Triệu Quang Phục. Thời tạm chiếm lại gọi Đồng Khánh: sau hoà bình (1954) lấy lại tên cổ là Hàng Bài.

 

HÀNG BÈ

Phố: dài hơn 170m; từ phố Hàng Mắm đến ngã tư Hàng Dầu - Cầu Gỗ. Xưa sông Hồng vào giáp đầu phố, gần cửa ô Mỹ Lộc có nhiều bè tre, nứa, gỗ đậu mà thành tên.

Đất thôn Nam Hoa, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm.

Đoạn đầu phố xưa còn gọi là phố Hàng Cau (bán cau khô). Thời Pháp thuộc là phố Hàng Bè (rue de Radeaux).

 

HÀNG BỒ

Phố: dài hơn 270; từ ngã tư phố Hàng Đào - Hàng Ngang - Hàng Bạc đến ngã tư phố Hàng Thiếc - Thuốc Bắc - Bát Đàn cắt ngang ngã tư phố Hàng Cân - Lương Văn Can.

Đất thôn Xuân Hoa, Nhân Nội, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Đền Nhân Nội ở số nhà 84. Xưa phố bán hàng nan bằng tre, nứa. Nay thuộc phường Hàng Đào và phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm.

Đoạn đầu phố xưa còn gọi là phố Hàng Dép. Thời Pháp thuộc là phố Hàng Bồ (rue des Paniers).

 

HÀNG BÔNG

 

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàng Bông (ảnh: Vũ Hưng)

Phố: dài 930m, từ ngã tư phố Hàng Trống - Hàng Hòm - Hàng - Gai đến góc gặp phố Đình Ngang, cạnh ngã năm Cửa Nam cắt ngang qua các ngã tư với phố Hàng Mành - Lý Quốc Sư, phố Đường Thành - Phủ Doãn, phố Hàng Da - Quán Sứ. Đất các thôn Kim Bát Thượng, Hạ, tổng Tiền Túc, Thương Môn Đông Hạ, Yên Trung Hạ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Trong phố còn các di tích: đền Phúc Hậu (số nhà 2), đền Lương Ngọc (số 68B), đình Kim Hội (số 95), đền Vọng Tiên (số 120B), đình Thiên Tiên (số 120).

Xưa kia là nhiều phố: Hàng Hài (đoạn đầu đến Hàng Mành), Hàng Bông Đệm (đoạn tiếp đến Hàng Da); Hàng Bông - Cây đa Cửa quyền (đoạn tiếp đến Phùng Hưng), Hàng Bông Lờ (đoạn cuối). Thời Pháp thuộc gọi chung là phố Hàng Bông (rue du Coton).

Ngõ: dài hơn 80m; từ phố Tống Duy Tân đến phố Hàng Bông.

Vốn là con đường mang cá cửa đông nam thành Thăng Long (Nguyễn), sau thuộc thôn Yên Trung Hạ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm. Ngõ này cùng với phố Tống Duy Tân được thành phố xây dựng làm khu ẩm thực của Thủ đô, quen gọi là phố Cấm Chỉ.

Thời Pháp thuộc là phố Lôngđơ (rue Lhonde). Sau Cách mạng gọi ngõ Cấm Chỉ. Sau giải phóng đổi là ngõ Hàng Bông Lờ. Từ 1964 mang tên ngõ Hàng Bông.

 

HÀNG BỘT

Ngõ: từ phố Tôn Đức Thắng (Hàng Bột cũ - cạnh số nhà 36 rẽ vào), thông sang phố Phan Phu Tiên, vào thêm đến Sân vận động Hàng Đẫy Hà Nội.

Nay thuộc phường Cát Linh, quận Đống Đa.

Thời Pháp thuộc là đường 205 (voie 205).

Sau Cách mạng: phố Phạm Lập Trai.

Thời tạm chiếm gọi ngõ Hàng Bột.

 

HÀNG BÚN

Phố: dài hơn 480m, từ đường Yên Phụ đến phố Phan Đình Phùng, cắt ngang các phố Nguyễn Khắc Nhu, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Trường Tộ, Quán Thánh. Đất các thôn Yên Ninh, Yên Thành và một phần hồ Mã Cảnh, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Đầu phố xưa là Ô Thạch Khối.

Nay thuộc phường Nguyễn Trung Trực và phường Quán Thánh, quận Ba Đình.

Tên dân gian chia làm hai phố: Hàng Bún Trên (đoạn đầu đến phố Quán Thánh), Hàng Bún Dưới (đoạn cuối).

Thời Pháp thuộc gộp lại là phố Hàng Bún (rue des Vermicelles)

Ngõ: ở cuối phố, thông sang phố Phan Huy Ích.

 

HÀNG BUỒM

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàng Buồm (ảnh: Sưu tầm trên Internet)

Phố: dài 300m; từ phố Đào Duy Từ đến ngã tư với phố Hàng Ngang - Hàng Đường - Lãn Ông, cắt ngang qua phố Hàng Giày.

Đất phường Hà Khẩu, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ. Số nhà 76 là đền Bạch Mã, nơi thờ Thần hoàng Thăng Long - Long Đỗ - cũng là thần trấn phía đông kinh thành, di tích đã xếp hạng năm 1986. Nơi xưa có chợ Bạch Mã và bến sông Tô bán các loại buồm bằng vải và cói cho thuyền bè nên thành tên.

Nay thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là phố Hàng Buồm (rue des Voiles).

 

HÀNG BÚT

Phố: gần 70m, từ phố Thuốc Bắc đến phố Bát Sứ. Đất thôn Đông Thành, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm.

Xưa có tên phố Hàng Mụn và có một đoạn phố Thuốc Bắc giáp Hàng Bồ mới gọi là Hàng Bút.

Thời Pháp thuộc là phố Côngbanerơ (rue Combanère).

 

HÀNG CÁ

Phố: dài 125m; từ phố Hàng đường đến phố Thuốc Bắc, cắt ngang qua phố Chả Cá.

Đất thôn Đồng Thuận, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ, có tên cổ là Trại Tiên Ngư (cá tươi) xưa ở bờ sông Tô. Đình Tiên Ngư thờ Lý Tiến, ở số 27. Nay thuộc phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi phố Hàng Cá (rue de la Poissonnerie).

 

HÀNG CÂN

Phố: dài hơn 100m; từ phố Lãn Ông đến phố Hàng Bồ, nối với phố Lương Văn Can. Đất thôn Hữu Đông Môn và Xuân Hoa, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Đền Xuân Yên ở số 44. Nay thuộc phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là phố Hàng Cân (rue des Balances).

 

HÀNG CHAI

Ngõ: dài 80m; từ phố Hàng Rươi đến phố Hàng Cót.

Đất thôn Tân Khai, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm. Sau số nhà 7 có đình thờ tổ nghề hát ca trù.

Thời Pháp thuộc: ngõ Ngang.

 

HÀNG CHÁO

Phố: dài 200m; từ phố Nguyễn Thái Học đi chéo đến đoạn đầu phố Tôn Đức Thắng.

Đất thôn Cổ Thành, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Cát Linh, quận Đống Đa.

Tên dâu gian xưa gọi là ngõ Hàng Hương (khác với Hàng Hương ở phố Phùng Hưng).

Thời Pháp thuộc là đường 206 (voie 206).

Sau Cách mạng: phố Phan Phu Tiên.

Thời tạm chiếm: phố Bảng Nhãn Đôn.

Sau hòa bình: lấy lại tên cổ này.

Ngõ: từ số 141 phố Nguyễn Thái Học đi cạnh Sân vận động hàng Đẫy đến ngõ Hàng Bột. Trước gọi là ngõ 141, tháng 1-2002 đặt tên ngõ Hàng Cháo.

 

HÀNG CHỈ

Ngõ: dài 65m, từ phố Tố Tịch sang phố Hàng Hòm.

Đất thôn Tố Tịch, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc đã gọi là ngõ Hàng Chỉ.

 

HÀNG CHIẾU

Phố: dài 280m; từ Ô Quan Chưởng đến ngã tư Đồng Xuân Hàng Mã - Hàng đường. Trước giáp bờ sông có nhiều hang bán chiếu cói.

Đất thôn Thanh Hà, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Đình Thanh Hà ở số 77, cửa mở sang số 10 ngõ Gạch.

Nay thuộc phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm.

Xưa có tên phố Đông Hà. Tên dân gian gọi là phố Mới.

Thời Pháp thuộc: phố Giăng Đuypuy (rue jean Dupuis).

Sau Cách mạng mang tên này.

 

HÀNG CHĨNH

Phố: dài 135m; từ đường Trần Nhật Duật đến phố Đào Duy Từ, ngang qua phố Nguyễn Hữu Huân. Đầu phố xưa là cửa Ô Trừng Thanh, đất thôn Ưu Nhất, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nơi trước đây bán các loại chum, vại, vò bằng gốm.

Nay thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là phố Hàng Chĩnh (rue des Vases).

 

HÀNG CHUỐI

Phố: dài 460m, từ phố Hàn Thuyên đến phố Nguyễn Công Trứ, cắt ngang qua phố Phạm Đình Hổ. Vốn là bờ đông hồ Hữu Vọng, đất thôn Nhân Chiêu, Đức Bác, Yên Hội, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng. Đầu phố có chùa Tràng Tín (số 5) nơi xưa có bến đò sông Hồng.

Thời Pháp thuộc là phố Tướng Bâyliê (rue Général Beylic).

Thời tạm chiếm đổi mang tên này.

Ngõ: có hai ngõ cùng tên mang số 1 và 2 trên phố này. Ngõ 1 thời Pháp thuộc gọi là ngõ cộc Bâyliê (impasse Beylié).

 

HÀNG CỎ

Ngõ: ở phố Trần Hưng Đạo, cạnh số nhà 108 rẽ vào. Đoạn cuối phố Trần Hưng Đạo, giáp ga Hà Nội, trước có tên dân gian là phố Hàng Cỏ và nhà ga cũng gọi tên ga Hàng Cỏ. Ngày xưa đây là nơi người cắt cỏ gánh đến bán cho lính chăn ngựa.

Đất thôn Tứ Mỹ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là xóm Chân Hưng (cité Chân Hưng).

 

HÀNG CÓT

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàng Cót (ảnh: Vũ Hưng)

Phố: dài 405m; từ phố Phan Đình Phùng, cạnh vườn Vạn Xuân (tên dân gian là vườn hoa Hàng Đậu) đến phố Hàng Mã, cắt ngang qua phố Gầm Cầu.

Đất thôn Tân Lập Tân Khai, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Chùa Pháp Bảo ở số 44, đình Ngũ giáp ở số 54.

Nay thuộc phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Tacu (rue Takou).

Sau Cách mạng lấy tên phố cổ này.

 

HÀNG DA

Phố: dài 240m, từ phố đường Thành, trước chợ Hàng Da, đến phố Hàng Bông.

Đất thôn Yên Nội, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi phố Hàng Da (rue des Cuirs), vì xưa ở bãi rộng trước chợ người ta đem bán các loại da trâu, bò…

 

HÀNG DẦU

Phố: 185m; từ phố Hàng Bè đến ngã ba với phố Đinh Tiên Hoàng, chỗ tượng đài “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” - cạnh đền Bà Kiệu. Đoạn cuối phố này chỉ có nhà một bên số lẻ, nhà cuối cùng mang số 47 là cơ quan Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội, sát liền nhà mang số 59 phố Đinh Tiên Hoàng.

Đất thôn Nhiễm Thượng, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Xưa bán các loại dầu.

Nay thuộc hai phường Hàng Bạc và Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Bên Hồ (rue du Lac).

Sau Cách mạng lấy lại tên phố cổ.

 

HÀNG ĐÀO

Phố: dài 260m; nối phố Hàng Ngang đến đầu Hàng Gai - Cầu Gỗ, cạnh quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

Xưa có nghề nhuộm điều mà thành tên. Còn di tích đình Hoa Lộc (số 90A) do dân 4 họ ở làng nhuộm Đan Loan, huyện Bình Giang, Hải Dương ra kinh đô lập nghiệp dựng nên thờ tổ nghề. Nhà số 10, năm 1907 là trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Nhà số 38 trước là đình Đồng Lạc còn bia gọi là đình chợ bán yếm lụa (Quyến yếm thị đình). Vốn là phường Thái Cực đời Lê, sau thuộc đất hai phường Đồng Lạc và Đại Lợi, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Thời Pháp thuộc là phố Tơ Lụa (rue de la Soie). Nhưng dân vẫn quen gọi tên phố cổ Hàng Đào.

 

HÀNG ĐẬU

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàng Đậu (ảnh: Vũ Hưng)

Phố: dài hơn 270m; từ đường Trần Nhật Duật (chỗ dốc xuống cầu Long Biên) đến vườn hoa Vạn Xuân, nơi có cây nước tròn.

Xưa có nhiều hàng bán các loại đậu hạt- Đầu phố là cửa Ô Phúc Lâm, còn gọi Ô Tiền Trung, Ô Hàng Đậu. Số nhà 79, đầu những năm 70 của thế kỷ XIX là trường Cúc Hiên của tiến sĩ Lê Đình Duyên (hoặc Diên). Số 32 là đình, chùa Nghĩa Lập.

Đất thôn Phúc Lâm, tổng Tả Túc và thôn Nghĩa Lập, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là phố Hàng Đậu (rue des Graines).

Ngõ: ở cạnh số 58 cùng phố rẽ vào, ngõ thước thợ thông sang phố Hồng Phúc.

 

HÀNG ĐIẾU

Phố: dài 280m; từ phố Bát Đàn đến phố đường Thành, giáp chợ Hàng Da.

Xưa bán các loại điếu hút thuốc lào mà thành tên. Phố có đền Hoả Thần ở số 30 - di tích xếp hạng năm 1999. Đất thôn Yên Nội, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là Hàng Điếu (rue des Pipes).

 

HÀNG ĐỒNG

Phố: gần 130m; từ phố Hàng Mã đến Hàng Vải, cắt ngang phố Lò Rèn.

Xưa là nơi bán đồ đồng do dân làng Cầu Nôm, Hưng Yên đến hành nghề. Đất thôn Yên Phú, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiêm.

Thời Pháp thuộc, phố này nhập với phố Bát Sứ gọi chung là phố Hàng Chén (rue des Tases) tên dân gian là phố Bát Sứ.

Còn tên phố Hàng Đồng (rue du Cuivre) là một đoạn của phố Hàng Mã bây giờ.

Sau Cách mạng tách làm hai phố Hàng Đồng, Bát Sứ.

 

HÀNG ĐƯỜNG

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàng Đường (ảnh: Sưu tầm trên Internat)

Phố: dài 180m; nối phố Đồng Xuân với phố Hàng Ngang, cắt qua ngã tư phố Hàng Cá - Ngõ Gạch. Vốn là phố bán bánh kẹo, đường mứt.

Số nhà 30B là chùa Cầu Đông, còn gọi Đông Môn tự và đình Đức Môn, di tích có từ thời định đô Thăng Long đã xếp hạng năm 1989; cầu Đông bắc qua sông Tô, có chợ ở cạnh Đất thôn Vĩnh Thái và Đông Hoa nội tự, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là Hàng đường (rue du Sucre)

 

HÀNG GÀ

 

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàng Gà (ảnh: Vũ Hưng)

Phố: dài 230m; từ phố Hàng Mã đến phố Bát Đàn, cắt ngang qua phố Hàng Vải.

Đất thôn Tân Lập Tân Khai, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Di tích chùa Thái Cam ở số nhà 16A đã xếp hạng năm 1990. Xưa người ta đưa gà vịt đến đây bán cho lính ra mua ở trước Cửa Đông mà thành tên.

Nay thuộc phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Thiên Tân (rue Tien Tsin).

Tên dân gian: Hàng Gà - Cửa Đông (cho khỏi lẫn với dốc Hàng Gà - Chợ Hôm).

Đoạn giáp phố Nhà Hoả còn có tên phố Thuốc Nam.

 

HÀNG GAI

 

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàng Gai (ảnh: Vũ Hưng)

Phố: dài 250m; từ góc phố Hàng Đào, cạnh quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục đến ngã tư phố Hàng Hòm - Hàng Trống, nối với phố Hàng Bông, cắt ngang phố Lương Văn Can.

Xưa bán các loại dây gai, võng gai... Đất phường Đông Hà và Cổ Vũ, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nửa cuối thế kỷ XIX, số nhà 79 là Nha Kinh lược Bắc Kỳ, số 80 là toà Công sứ đầu tiên của Pháp ở Bắc Kỳ. Trước có nhiều nhà in truyện Nôm (bản khắc gỗ) và bán sách, giấy, bút.

Nay thuộc phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là Hàng Gai (rue du Chanvre).

Tên dân gian còn gọi phố Hàng Thừng.

Đoạn đầu phố đến ngõ Tố Tịch, xưa có tên phố Hàng Tiện.

 

HÀNG GIÀY

Phố: dài gần 230m, từ phố Hàng Chiếu đến  phố Lương Ngọc Quyến cắt ngang qua ngã tư Ngõ Gạch – phố Nguyễn Văn Siêu, phố Hàng Buồm - cạnh đền Bạch Mã.

Đất hai thôn Cổ Lương và Hài Tượng, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là hai phố:

- Đoạn đầu đến ngõ Gạch gọi là Hàng Màn (rue Lataste)

- Đoạn sau là Hàng Giày, sau đổi là phố Nguyễn Duy Hàn

Sau Cách mạng: phố Tán Thuật.

Thời tạm chiếm gọi chung là Hàng Giày.

 

HÀNG GIẤY

Phố: dài 210m; từ Hàng Đậu đến ngã tư phố Đồng Xuân - Hàng khoai, chạy qua dưới cầu cạn đường xe lửa.

Đất phường Đồng Xuân, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Đình Đồng Xuân còn ở số 83. Phố có nhiều hàng bán loại giấy bản.

Nay thuộc phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là Hàng Giấy (rue du Papier).

 

HÀNG HÀNH

Ngõ: dài 170m; từ cuối phố Lương Văn Can nối với ngõ Báo Khánh.

Đất thôn Tả Khánh Thụy, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Đình Tả Khánh Thụy số nhà 23, còn đình Trúc Lâm ở số 40 thờ tổ nghề da của dân làng Chắm, Văn Lâm lập (di tích xếp hạng) và Nhị Khê Vọng từ ở số 11 thờ tổ nghề tiện của dân Nhị Khê, huyện Thường Tín.

Nay thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc đã gọi là ngõ Hàng Hành (ruelle des Oignons).

 

HÀNG HÒM

Phố: dài 120m; từ phố Hàng Quạt đến phố Hàng Gai. Đất thôn Cổ Vũ Thượng, tổng Tiền Túc, huyện Thọ xương Cũ. Xưa làm Các loại hòm, rương, tráp và đồ gỗ sơn, còn đình Hà Vĩ ở số 11 thờ tổ nghề sơn của dân Hà Vĩ, huyện Thường Tín lập nên.

Nay thuộc phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là Hàng Hòm (rue des Caisses).

 

HÀNG HƯƠNG

Ngõ: 65m; từ phố Phùng Hưng rẽ ra gầm cầu cạn cho xe lửa, sang phố Lý Nam Đế, giữa có một nhánh cộc. Nơi làm hương trầm của dân làng Đông Lỗ, huyện Kim Động, Hưng Yên.

Đất ven ngoài cửa đông thành cổ.

Nay thuộc phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là xóm Thống chế Giópphơrơ (cite Maréchal Joffre).

(Còn một ngõ Hàng Hương khác chuyên làm hương đen, nay là phố Hàng Cháo).

 

HÀNG KHAY

Phố: dài 160m, chạy cạnh nam hồ Gươm, nối phố Tràng Tiền với phố Tràng Thi. Xưa chuyên làm nghề đồ gỗ khảm, trong đó có các loại khay. Đất thôn Thị Vật và Tô Mộc, tổng Tiền Túc, huyện Xương cũ.

Nay từ thuộc phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là phố Thợ Khảm (gồm cả đoạn cuối phố Tràng Tiền) (rue des Incrusteurs). Sau gộp cả phố Tràng Tiền gọi là phố Pôn Be (rue Paul Bert).

Sau Cách mạng: thành hai phố Tràng Tiền, Hàng Khay.

Thời tạm chiếm: phố Anh Quốc (Great Britain Street).

Sau giải phóng: lấy lại tên Hàng Khay.

 

HÀNG KHOAI

Phố: dài 360m; từ đường Trần Nhật Duật đến phố Hàng Lược, cắt ngang phố Nguyễn Thiếp, chạy bên cạnh trái chợ Đồng Xuân, qua ngã tư phố Hàng Giấy - Đồng Xuân.

Đất thôn Huyền Thiên, Vĩnh Trù, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nơi bán các loại ngũ cốc.

Di tích Huyền Thiên cổ quán ở số nhà 54, nơi tu hành của người theo Đạo giáo, xếp hạng quốc gia năm 2008.

Nay thuộc hai phường Đồng Xuân và Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi phố Hàng Khoai (rue des Tubercules).

Ngõ: có hai ngõ cùng tên mang số 1 và 2 ở trên phố này rẽ vào, cạnh hai bên quán Huyền Thiên.

 

HÀNG LỌNG

Ngõ: ở phố Nguyễn Du, cạnh số nhà 102 rẽ vào.

Đất thôn Cung Tiên, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương trước.

Nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm.

Hàng Lọng vốn là tên một phố cổ ở đoạn đầu đường Lê Duẩn bây giờ kéo dài đến ga Hàng Cỏ. Đường giờ mang tên mới, chỉ còn chiếc ngõ này lưu lại tên cũ để nhớ về một phố “hàng” của Hà Nội xưa, chuyên làm các loại tàn, lọng.

 

HÀNG LƯỢC

Phố: dài 265m; từ góc phố Hàng Cót - Gầm Cầu đến phố Hàng Mã.

Đất các thôn Phủ Từ, Vĩnh Trù, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Xưa có các hàng bán các loại lược chải đầu.

Nay thuộc phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm.

Giữa phố số 12 có đền Mosquée của đạo Hồi, quen gọi là chùa Tây Đen. Chùa Vĩnh Trù ở số 59, di tích xếp hạng năm 1994. Hàng năm giáp tết cổ truyền. Phố này trở thành chợ hoa.

Tên dân gian gọi là phố Cống Chéo - Hàng Lược (vì trước có chiếc cống bắc chéo ngang số nhà 14 qua sông Tô).

Thời Pháp thuộc gọi là phố Sông Tô Lịch (rue du Sông Tô Lịch).

Sau Cách mạng lấy lại tên phố cổ.

 

HÀNG MÃ

 

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàng Mã (ảnh: Vũ Hưng)

Phố: dài 345m; nối phố Hàng Chiếu đến phố Phùng Hưng, cắt ngang ngã ba ngã tư Hàng Lược - Chả Cá, Hàng Đồng – Hàng Rươi, Hàng Gà - Hàng Cót.

Đất thôn Vĩnh Thái, Yên Phú, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Đình Yên Phú ở số 56. Phố chuyên bán đồ vàng mã, đầu sư tử, đèn giấy cho tết Trung thu... vẫn còn đến nay.

Nay thuộc phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Hàng Đồng (rue du Cuivre)

Tên dân gian gọi thành hai phố:

- Đoạn đầu là Hàng Mã (còn gọi Hàng Mã trên vì có phố Hàng Mã dưới sau nhập với Hàng Mây thành phố Mã Mây).

- Đoạn cuối là Hàng Đồng.

Sau Cách mạng: gọi chung là phố Hàng Mã (vì đã có tên phố Hàng Đồng đặt cho nửa phố Bát Sứ rồi).

 

HÀNG MÀNH

Phố: dài 150m; từ phố Hàng Nón nối với phố Lý Quốc Sư, ở ngã tư Hàng Bông- Hàng Gai.

Xưa dân làng Giới Tế, Yên Phong, Bắc Ninh đến làm các loại mành. Đất thôn Yên Thái, Kim Bát Thượng, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là phố Hàng Mành (rue des Stores).

 

HÀNG MẮM

Phố: dài gần 190m; từ đường Trần Nhật Duật nối với phố Hàng Bạc ở chạc ba Mã Mây, cắt ngang qua phố Nguyễn Hữu Huân.

Đất thôn Thanh Yên ra cửa ô Ưu Nghĩa, tổng Phúc Lâm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm.

Tên dân gian xưa đoạn đầu còn gọi phố Hàng Trứng (khác với ngõ Hàng Trứng nay là phố Đông Thái).

Thời pháp thuộc là phố Hàng Mắm (rue de la Saumure).

 

HÀNG MUỐI

Phố: dài hơn 100m; từ đường Trần Nhật Duật đi chéo đến phố Hàng Mắm.

Đất thôn Trừng Thanh, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ, sát bên sông Hồng, có nhiều thuyền chở muối đem lên bán.

Nay thuộc phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi phố Hàng Muối (rue de Sel).

 

HÀNG NGANG

Phố: dài hơn 150m; nối phố Hàng đường đến phố Hàng Đào.

Đất phường Diên Hưng, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm.

Nhà số 48 là nơi Bác Hồ viết Tuyên  ngôn độc lập năm 1945, đã xếp hạng di tích lịch sử năm 1979.

Tên dân gian cổ còn gọi Hàng Lam, đường Nhân (nơi người Hoa cư trú).

Thời Pháp thuộc gọi phố Người Quảng Đông (còn gọi Việt Đông - rue des Cantonnais).

Sau Cách mạng: Hàng Ngang (lấy tên truyền thống này do hai đầu phố có cổng chặn ngang đường, tối đóng lại thành khu riêng của người Tàu Quảng Đông).

 

HÀNG NÓN

Phố: dài 215m; từ phố Hàng Quạt đến phố đường Thành, cắt ngang qua phố Hàng Điếu.

Đất thôn Yên Nội - Đông Thành, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm. Tại số nhà 15, phố này, ngày 28-7-1929 đã họp Đại hội thành lập Công hội đỏ Bắc Kỳ.

Xưa đoạn đầu là phố Mã Vĩ (làm phục trang, mũ mãng, cờ quạt cho quan lại và đạo cụ biểu diễn nghệ thuật... những thứ dùng đến đuôi ngựa) cũng gọi là Hàng Nón trên. Đoạn cuối mới là nơi làm và bán các loại nón và gọi là phố Hàng Nón.

Thời Pháp thuộc gộp lại gọi phố Hàng Nón (rue des Chapeaux).

 

HÀNG PHÈN

Phố: dài 100m; từ phố Thuốc Bắc đến phố Hàng Gà, cắt ngang qua phố Bát Sứ. Xưa chuyên bán các loại phèn chua, giấy phèn.

Đất thôn Đông Thành Thị, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc có tên phố Chợ Cũ (rue du Vieux Marché). Bởi trước có chợ Đông Thành ở đây, sau dồn cả vào chợ Đồng Xuân. Từ năm 1945 mang tên này.

 

HÀNG QUẠT

Phố: dài 200m, từ phố Lương Văn Can đến ngã ba Hàng Nón - Hàng Hòm.

Đất thôn Tố Tịch và Thuận Mỹ, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Có đình Xuân Phiến Thị (chợ Quạt mùa xuân), chỗ nhà số 4, thờ Tổ nghề quạt của dân Đào Xá, Ân Thi, Hưng Yên ra cư trú ở đây. Đền Dâu (Thuận Mỹ) ở số 64. Nay thuộc phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm.

Xưa là hai phố:

- Đoạn đầu phố này và đầu phố Lương Văn Can là Hàng Quạt.

- Đoạn cuối là Hàng Đàn (bán các loại đàn dân tộc và đồ thờ chạm gỗ, sơn).

Thời Pháp thuộc: gộp lại thành phố Hàng Quạt (trừ đoạn phố Lương Văn Can ra).

 

HÀNG RƯƠI

Phố: dài 110m; từ phố Hàng Lược đến phố Hàng Mã.

Đất thôn Vĩnh Trù và Yên Phú, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nơi cứ đến tháng 9, 10 âm lịch, các hàng rươi từ miền ven biển Hải Phòng, Hải Dương đưa lên bán.

Nay thuộc phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là phố Hàng Rươi (rue des Vers Blancs).

 

HÀNG THAN

Phố: dài 410m; từ đường Yên Phụ tới cây nước tròn Hàng Đậu - Quán Thánh, cắt ngang các phố Phạm Hồng Thái, Hoè Nhai.

Đất xưa là phường Giang Tân, đổi ra Hà Tân rồi Thạch Khối, ở đoạn đầu giáp bãi sông Hồng - nơi có nhiều lò vôi, bán than; cuối phố thuộc thôn Hoè Nhai (tổng Thượng) và Yên Thuận (tổng Yên Thành), huyện Vĩnh Thuận cũ. Đây cũng là vùng Đông Bộ Đầu - nơi tập kích quân Nguyên, đuổi chúng ra khỏi kinh thành mùa xuân năm 1258, được ghi trong bia chùa Hoè Nhai ở số nhà 19, tên chữ là Hồng Phúc tự (chốn tổ của thiền phái Tào Động, nơi lưu giữ mộc bản in kinh Phật) – chùa đã được xếp hạng năm 1989.

Phố này bây giờ tập trung bán các bánh cốm, nổi tiếng có nhà Nguyên Ninh ở số 11.

Nay thuộc phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là phố Hàng Than (rue du Charbon).

 

HÀNG THIẾC

Phố: dài gần 140m; từ ngã tư Hàng Bồ - Thuốc Bắc - Bát Đàn đến phố Hàng Nón. Nơi sản xuất các loại hàng bằng sắt tây tôn, kẽm, đồng lá.

Đất thôn Yên Nội, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm (rue des Ferblanctiers).

 

HÀNG THỊT

Ngõ: ở cuối phố Hai Bà Trưng, cạnh số 79 rẽ chéo vào, ngõ cộc. Nơi cư trú những người mổ lợn bán ở chợ Cửa Nam trước đây.

Nay thuộc phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm.

 

HÀNG THÙNG

Phố: dài gần 220m; từ đường Trần Nhật Duật đến phố Hàng Bè, nối với phố Cầu Gỗ, cắt ngang các phố Hàng Tre, Nguyễn Hữu Huân.

Đất thôn Sơ Trang, cửa ô Đông Yên, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nơi làm và bán các loại thùng ghép bằng gỗ, tre gắn sơn ta. Đền Thọ Nam ở số 22.

Nay thuộc hai phường Lý Thái Tổ và Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là hai phố:

- Đoạn đầu đến phố Nguyễn Hữu Huân là phố Phúc Châu (rue Fou Tchéou) sau đổi là phố Rôngđôny (rue Rondony).

- Đoạn cuối là phố Hàng Thùng (rue des Seaux).

Sau Cách mạng: phố Rôngđôny đổi là phố Bình Chuẩn (tên chiếc tàu thuỷ của Bạch Thái Bưởi đỗ ở bến này).

Thời tạm chiếm: nhập hai phố thành Hàng Thùng.

 

HÀNG TRE

Phố: dài hơn 290m; từ phố Hàng Mắm đến phố Lò Sũ, cắt ngang qua ngõ Bạch Thái Bưởi và phố Hàng Thùng.

Đất thôn Trường Thanh, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ. Xưa giáp sông Hồng có nhiều bè tre nứa bán đoạn cuối phố còn gọi là Hàng Cau, sau chuyển vào đầu phố Hàng Bè. Toà án đầu tiên của Hà Nội thời Pháp thuộc trước ở phố này.

Nay thuộc phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là phố Hàng Tre (rue des Bambous).

 

HÀNG TRỐNG

 

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hàng Trống (ảnh: Vũ Hưng)

Phố: dài gần 400m, từ ngã tư giáp ranh Hàng Gai – Hào Bông đến phố Lê Thái Tổ, cạnh phía Tây hồ Gươm.

Đất các thôn Cổ Vũ, Khánh Thụy Hữu, Tự Tháp đều thuộc tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Xưa có nghề làm trống, làm tranh dân gian và nghề thêu. Số nhà 82 là đền Đông Hương (còn gọi đền Hàng Trống), số 75 là đình Nam Hương di tích đã xếp hạng. Cuối phố có nhà Khai Trí Tiến Đức, sau hoà bình là Câu lạc bộ Thống Nhất, nay là Trung tâm hướng dẫn Câu lạc bộ, Cục Văn hoá thông tin cơ sở. Toà báo Nhân dân ở số 71.

Nay thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm.

Thời Lý - Trần là phường Tàng Kiếm. Đoạn cuối phố còn có tên phố Hàng Thêu.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Thợ Thêu (rue des Brodeurs), sau đổi là phố Giuyn Phery (rue Jules Ferry).

Sau Cách mạng chính thức gọi phố Hàng Trống.

 

HÀNG VẢI

Phố: dài gần 240m; từ phố Thuốc Bắc đến phố Phùng Hưng, cắt ngang ngã tư Hàng Đồng - Bát Sứ và phố Hàng Gà. Số 44 là đình Tân Khai (Thái Cam), di tích đã xếp hạng năm 1990, đình Đông Thành ở số 7.

Đất thôn Đông Thành, Tân Khai, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm.

Xưa cuối phố còn gọi phố Hàng Cuốc, cũng gọi ngõ Cổng Đục.

Thời Pháp thuộc là phố Hàng Vải (còn gọi Hàng Vải Nâu) (rue des Étoffes).

 

HÀNG VÔI

Phố: dài gần 400m; từ phố Lò Sũ đến phố Ngô Quyền (gần bến xe buýt Hàng Vôi), ngoặt sang đường Trần Quang Khải.

Đất thôn Trừng Thanh, Kiếm Hồ, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ. Trước ở sát bờ sông Hồng, có nhiều nhà bán vôi cục.

Nay thuộc phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Hàng Vôi (rue de la Chaux)

(Gồm cả phố Tông Đản bây giờ, đến thời tạm chiếm tách làm hai phố).

 

HÀO NAM

Phố: dài 650m; từ trụ sở Hợp tác xã Lao động trong làng Hào Nam, chạy hai bên mương Hào Nam nay đã thành cống ngầm, qua Nhạc viện Hà Nội, đến đường La Thành.

Đất trại Thịnh Hào, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ. Hào Nam là một thôn của trại Thịnh Hào. Nay thuộc phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa. Đình và đền Hào Nam là di tích được xếp hạng nam 1994.

Tên phố mới đặt tháng 1-1999.

 

HOA BẰNG

Phố: dài 550m, từ phố Yên Hoà (chỗ ngã ba với phố Trung Kính) đến ngã ba kế tiếp trong làng Yên Hoà, huyện Từ Liêm trước đây, nay thuộc phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy.

Tên mới đặt tháng 7-1999.

Hoa Bằng: bút danh của Hoàng Thúc Trâm (1902 -1997), người làng Hạ Yên Quyết (Cót), tổng Dịch Vọng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (sau là xã Yên Hoà, huyện Từ Liêm, nay là phường Yên Hoà). Ông là một học giả uyên bác, tham gia viết báo từ năm 1925, là tác giả và soạn giả của nhiều tác phẩm nghiên cứu giá trị như: Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Hồ Xuân Hương, Lý Văn Phức, Văn chương Quốc âm đời Tây Sơn, Lịch sử xã hội Việt Nam, Tư tưởng đại đồng trong cổ học Trung Hoa, Hán Việt tân từ điển... và là dịch giả: Việt sử thông giám cương mục, Đại nam thực lục, Lịch triều tạp kỷ…

 

HOA LÂM

Phố: dài 900m; từ ngõ 170 đường Ngô Gia Tự đến khu đô thị mới Việt Hưng.

Đất xã Việt Hưng, huyện Gia Lâm trước đây.

Nay thuộc phường Việt Hưng, quận Long Biên. Tên mới đặt tháng 8-2005.

Hoa Lâm: vốn là vùng đất cổ, một sở khai thác đồn điền nên còn gọi là Hoa Lâm Sở, có từ trước thế kỷ XIX. Sau năm 1841, đổi tên là Trường Lâm Sở và bao gồm cả thôn Ngọc Lâm (nay thuộc phường Bồ Đề). Trường Lâm hay Tràng Lâm là một làng của huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh xưa, sau Cách mạng hợp nhất 4 làng: Tràng Lâm, Ô Cách, Lệ Mật, Kim Quan Thượng thành xã Việt Hưng, nhập về Hà Nội năm 1961. Năm 2004 thành lập quận Long Biên, Việt Hưng là một trong 14 phường thuộc quận.

 

HOA LƯ

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hoa Lư (ảnh: Sưu tầm trên Internet)

Phố: dài 350m; từ phố Lê Đại Hành đến phố Đại Cồ Việt, qua Trung tâm Triển lãm Văn hoá - nghệ thuật Vân Hồ.

Đất thôn Vân Hồ, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng.

Hoa Lư tên vùng núi huyện Gia Viễn, nay thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, nơi vua Đinh Tiên Hoàng (sau khi dẹp yên loạn Mười hai sứ quân) lập làm kinh đô của nước Đại Cồ Việt vào thế kỷ X. Sau 42 năm là kinh đô đất nước dưới triều Đinh và Tiền Lê (từ 968 đến 1009), vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long (1010).

 

HOÀ BÌNH

Ngõ: ở phố Khâm Thiên, cạnh số nhà 24 rẽ vào, thông sang ngõ Văn Chương. Nay thuộc phường Thổ Quan, quận Đống Đa.

Tên có từ trước Cách mạng do trong ngõ có nhiều nhà của anh em ông chủ hãng Ô tô chạy Hà Nội - Hoà Bình.

Ngõ: cùng tên của 7 ngõ từ 1 đến 7 ở phố Minh Khai bên số lẻ rẽ vào, đất phường Hồng Mai và làng Quỳnh Lôi, huyện Thanh Trì xưa. Nay thuộc phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng.

Tên mới đặt sau ngày Thủ đô giải phóng, hoà bình lập lại.

 

HOÀ MÃ

Phố: dài 460m; từ phố Lò Đúc đến phố Huế, cắt ngang qua phố Ngô Thì Nhậm.

Đất thôn Hương Viên và Hoà Mã, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc hai phường Phạm Đình Hổ và Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng.

Hoà Mã nghĩa chữ Nôm là thay trang phục. Xưa ở đây có cung Đổi Mã (sau làm chùa Hoà Mã) để vua thay áo vào tế đàn Nam Giao.

Thời Pháp thuộc là phố Đô đốc Xênét (rue Amiral Sénès)

Nhưng dân gian vẫn quen gọi Hoà Mã.

 

HOẢ LÒ

Phố: dài 165m; từ phố Hai Bà Trưng sang phố Lý Thường Kiệt, không có nhà dân, một bên là Toà án, một bên là Nhà giam Trung ương (Maison Centrale) do Pháp xây năm 1899.

Đất thôn Phụ Khánh, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Dân thôn này có nghề làm siêu, ấm, hoả lò bằng đất nung, nên thành tên gọi nhà tù này. Di tích nhà tù Hoả Lò nay chỉ còn một phần dược xếp hạng năm 1997  và thành bảo tàng.

Nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc gọi là phố Nhà Tù (rue de la Prison).

Dân quen gọi: phố Hoả Lò.

 

HOÀNG AN

Ngõ: từ phố Lê Duẩn (xế trước Công viên Thống Nhất) rẽ qua đường sắt vào làng Trung Phụng, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Ngõ thông sang ngõ chợ Khâm Thiên.

Hoàng An là tên người có nhiều nhà xây lập ra ngõ này.

Nay thuộc phường Trung Phụng, quận Đống Đa. Còn gọi ngõ Trung Phụng.

 

HOÀNG CẦU

Phố: dài gần 1000m; từ đường La Thành đi bên cạnh mương Hào Nam qua hồ Đống Đa đến phố Thái Hà.

Đất trại Thịnh Hào, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ.

Hoàng Cầu là tên gốc của một thôn ở phía nam đường đê La Thành, giữa đoạn từ ngã tư Láng Hạ - Giảng Võ đến Ô Chợ Dừa. Đi vào bằng các ngõ từ đê La Thành xuống hoặc từ phố Nguyễn Lương Bằng rẽ vào qua phố Đông Các và ngõ chùa Nam Đồng (số 66).

 

HOÀNG DIỆU

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Đường Hoàng Diệu (ảnh: Vũ Hưng)

Đường: dài 1,34km, từ phố Phan Đình Phùng đến phố Nguyễn Thái Học, cắt ngang các phố Hoàng Văn Thụ, Điện Biên Phủ, Trần Phú, Cao Bá Quát.

Vốn là đường hào cạnh phía tây hành cung thành Thăng Long thời Nguyễn. Có lối vào di tích Đoan Môn của thành cổ, đã xếp hạng năm 1999. Khu di tích Hoàng cung Long Thành mới phát lộ đang khai quật khảo cổ ở góc đường Hoàng Diệu và Bắc Sơn. Nay thuộc hai phường quán Thánh và Điện Biên, quận Ba Đình.

Thời Pháp thuộc gọi là đại lộ Víchto Huygô (avenue Victor Hugo)

Sau đổi là: đại lộ Pie Patxkiê (avenue Pierre Pasquier), (1932).

Tên mới dặt sau Cách mạng tháng 8-1945.

Hoàng Diệu (1832 - 1882): người huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đỗ phó bảng năm 1853, giữ chức Tổng đốc Hà - Ninh (Hà Nội - Ninh Bình) năm 1880. Pháp đánh thành Hà Nội (25-4-1882), Hoàng Diệu chỉ huy cuộc chiến đấu tới cùng. Thấy không đủ sức chiến đấu nổi, ông thắt cổ tuẫn tiết trên cây táo cạnh Võ Miếu. Sau Cách mạng, một thời tên ông được đặt cho thành phố Hà Nội là thành Hoàng Diệu trước và trong kháng chiến chống Pháp). Tượng đồng của ông và Nguyễn Tri Phương được đặt năm 2003 tại Cửa Bắc thành Hà Nội để ghi nhớ hai vị đã hy sinh chống Pháp đánh thành.

 

HOÀNG ĐẠO THÀNH

Phố: dài 470m; từ đường Kim Giang (chỗ chợ Kim Giang) đi vào đến nhà D7 của khu tập thế Kim Giang. Đất thôn Kim Lũ - lên nôm là Lủ Cầu - thuộc xã Đại Kim, huyên Thanh Trì trước, nay thuộc phường Kim Giang, quận Thanh Xuân.

Tên cũ là phố: Lủ Cầu (thành phố đặt tháng l-1999).

Tên mới Hoàng Đạo Thành, đổi lại từ tháng 7-2000.

Hoàng Đạo Thành (? - 1908): vốn gốc họ Cung, người làng Kim Lũ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì (từ năm 2004 là phường Đại Kim, quận Hoàng Mai). Ông đỗ tú tài năm 1870, cử nhân năm 1884, ra làm quan Giáo thụ ở huyện Quốc Oai rồi Hoài Đức, Đa Phúc, Thuận Thành, Từ Sơn; tri huyện Quế Dương, tri phủ Thuận Thành, thương tá tỉnh Bắc Ninh. Ông tham gia phong trào Duy Tân, viết nhiều sách lịch sử và danh nhân: Đại Nam hành ngữ liệt nữ truyện, Việt sử tứ tự, Việt sử tân ước - bộ sử có quan điểm tiến bộ. Ông là thân sinh nhà văn hoá Hoàng Đạo Thúy.

 

HOÀNG ĐẠO THÚY

Phố: dài 1,1km; từ phố mới đặt tên Lê Văn Lương, qua khu chung cư 7 tầng của đô thị mới Trung Hòa - Nhân Chính, đến đường Trần Duy Hưng; chạy trên đất 2 xã Trung Hòa và Nhân Chính, huyện Từ Liêm trước đây. Nay thuộc phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy và Nhân Chính thuộc quận Thanh Xuân.

Tên mới đặt tháng 8-2005.

Hoàng Đạo Thúy (1900- 1994): người làng Kim Lũ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì (từ 2004 là phường Đại Kim, quận Hoàng Mai), Hà Nội, sống lâu ở làng Đại Yên, nay thuộc quận Ba Đình. Trước 1945, ông dạy ở trường tiểu học Sinh Từ, tham gia ban chỉ đạo Liên đoàn hướng đạo Bắc Kỳ, hoạt động truyền bá quốc ngữ và cứu tế xã hội, viết báo Thanh Nghị, viết sách Trai nước Nam làm gì?, Anh Tư Bền... Ông là đại biểu Quốc dân đại hội Tân Trào. Sau Cách mạng tháng Tám, ông gia nhập quân đội, giữ nhiều chức vụ: Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc Bộ Quốc phòng, Giám đốc trường võ bị Trần Quốc Tuấn, Cục trưởng Cục Giao thông dân binh, Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng tham mưu... được phong hàm đại tá (1958). Sau hòa bình, ông chuyển sang Ủy ban dân tộc Trung ương, ông là đại biểu Quốc hội khóa I và II. Những tác phẩm của ông viết về Hà Nội như Người và cảnh Hà Nội, Hà Nội phố phường xưa, Hà Nội thanh lịch... đã được tặng giải thưởng Thăng Long của Thủ đô năm 1994.

 

HOÀNG HOA THÁM

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Đường Hoàng Hoa Thám (ảnh: Vũ Hưng)

Đường: dài 3,3km; từ phố Phan Đình Phùng - Hùng Vương đến đường Bưởi chỗ Cống Yên - cạnh chợ Bưởi. Chạy bên vườn Bách Thảo và các làng Ngọc Hà, Đại Yên, Vĩnh Phúc. Có một cổng vườn Bách thảo ở đoạn đầu đường. Vốn là tường thành bao mặt bắc kinh thành xưa, bên sông Tô Lịch, nên nền cao. Đất nhiều thôn thuộc Thập tam trại, tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận cũ. Cạnh đường có đền Đống Nước, di tích xếp hạng năm 1993; đình Đại Yên, xếp hạng năm 1990. Nay thuộc các phường: Ngọc Hà, Cống Vị (quận Ba Đình); Thụy Khuê, Bưởi (quận Tây Hồ).

Trước đây có tên dân gian là đường Thành.

Thời Pháp thuộc gọi là đê Parô (digue Parreau).

Hoàng Hoa Thám (1845 -1913): quen gọi là Đề Thám, tên thật là Trương Nghĩa, quê Tiên Lữ, Hưng Yên; nhưng sinh tại Sơn Tây. Ông lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế năm 1887, lập căn cứ ở Bắc Giang, chống Pháp dai dẳng 26 năm. Pháp không diệt nổi phải thương lượng đình chiến mấy lần. Ngày 10-2-1913, Pháp mua chuộc được một số tên phản bội, đã sát hại ông ở vùng rừng Yên Thế. Ông là một anh hùng nông dân yêu nước, có tính thần bất khuất, kiên dũng trong lịch sử cận đại.

 

HOÀNG MAI

Đường: dài 1,7km; từ đường Trương Định vào qua làng Hoàng Mai sang tới đường Tam Trinh, gần khu đô thị mới Đền Lừ.

Đất làng Hoàng Mai, tổng Hoàng Mai, huyện Hoàn Long, Hà Đông, sau thuộc ngoại thành thời Pháp thuộc. Năm 1957 là xã Hoàng Văn Thụ, huyện Thanh Trì, sau thành phường thuộc quận Hai Bà Trưng. Từ 1-1-2004 là phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai. Phường có di tích đền Lừ, đình Hoàng Mai và chùa Nga Mi đã xếp hạng năm 1994.

Tên cũ gọi ngõ 103 Trương Định.

Tên mới đặt tháng 7-1999.

 

HOÀNG MINH GIÁM

Đường: dài 1,13km; từ ngã tư nối với đường Nguyễn Tuân qua khu đô thị mới đến đường Trần Duy Hưng. Đất xã Nhân Chính và Trung Hòa, huyện Từ Liêm trước đây. Nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân và phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy. Tên mới đặt tháng 8 - 2005.

Hoàng Minh Giám (1904 -1995): quê xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội; sinh trong một gia đình nhà nho yêu nước, là con của chiến sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục Hoàng Tăng Bí. Ông học trường Quốc học Huế, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Hà Nội (1926), giáo sư trung học ở Phnôm Pênh rồi về Sài Gòn dạy học (1928) và viết báo An Nam, Tiếng chuông rè, Người nhà quê…  Năm 1935 tham gia thành lập Trường tư thục Thăng Long ở Hà Nội và làm hiệu trưởng trường này (1937 - 1945). Cách mạng tháng Tám thành công, ông được mời vào Chính phủ lâm thời, làm Đổng lý văn phòng, sau đó giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền (1954), Bộ trưởng Bộ Văn hóa (1956 -1976). Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa I đến khóa VII, là một trong những người sáng lập Đảng Xã hội Việt Nam (1946) và là Tổng thư ký của đảng này, tham gia ủy viên Đoàn chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 

HOÀNG NGÂN

Phố: dài 900m; từ phố Hoàng Đạo Thúy đến đường Lê Văn Lương. Tháng 7-2007, thành phố điều chỉnh nối thêm 400m từ đường Lê Văn Lương đến phố Quan Nhân, thuộc phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy và phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân. Tên mới đặt: 12-2006.

Hoàng Ngân (1921-1949): tên thật là Phạm Thị Vân, quê gốc Nam Định, sinh tại Hải Phòng, tham gia cách mạng từ thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936 -1939), vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm mới 17 tuổi, sớm trở thành một đảng viên trẻ có bản lĩnh. Chị lần lượt làm liên lạc cho Xứ uỷ Bắc Kỳ, cán bộ chủ chốt của Đảng bộ Hải Phòng, Ban thường vụ Hội Phụ nữ Bắc Kỳ. Bị thực dân bắt đầu năm 1944, kết án 12 năm tù, giam ở Hỏa Lò, Hà Nội. Nhật đảo chính Pháp, chị được giải thoát, ra nhận nhiệm vụ Bí thư Phụ nữ cứu quốc Hà Nội, tổ chức đội nữ du kích Minh Khai để tham gia Tổng khởi nghĩa. Trong kháng chiến chống Pháp, chị làm Bí thư Phụ nữ cứu quốc Bắc Bộ, Bí thư Hội Phụ nữ Việt Nam, Tổng biên tập đầu tiên của báo Phụ nữ Việt Nam xuất bản tại chiến khu. Do bị địch tra tấn dã man ngày trước nên sức khoẻ yếu, chị mất tại Việt Bắc năm 1949. Truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang năm 2008.

 

HOÀNG NGỌC PHÁCH

Phố: dài 320m; từ ngã tư Láng Hạ - Thái Thịnh đến đường Nguyên Hồng, chạy qua khu A và giữa hai khu B – C, khu tập thể Nam Thành Công.

Đất trại Yên Lãng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ.

Nay thuộc phường Láng Hạ, quận Đống Đa.

Tên mới đặt tháng 1-1998.

Hoàng Ngọc Phách (1896 - 1973): hiệu Song An, nhà giáo - nhà văn - nhà nghiên cứu văn học, người làng Đông Thái, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Viết tạp chí Nam Phong từ 1919. Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm 1922. Gắn bó với giáo dục 40 năm, từng làm giám đốc Học khu Bắc Ninh, Giáo dục khu 12, Giám đốc trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương, Ban tu thư Bộ Giáo dục. 1959 sang Viện Văn học Việt Nam. Mất tại Hà Nội ngày 24-11 -1973.

Tác phẩm chính: Tố Tâm (1922), Thời thế với văn chương (1941), Đâu là chân lý (1941), Văn thơ Nguyễn Khuyến (viết chung 1957), Sơ tuyển văn  thơ yêu nước và cách mạng (viết chung, 1958).

 

HOÀNG QUỐC VIỆT

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Đường Hoàng Quốc Việt (ảnh: Vũ Hưng)

Đường: dài 2,53km; từ đường Bưởi đến đường Phạm Văn Đồng. Mới hình thành khi lập khu nhà ở Nghĩa Tân ở xã Nghĩa Đô và mở rộng tới 50m từ cuối năm 1996. Đất các xã Nghĩa Đô, Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm.

Tên mới đặt tháng 7-1996.

Hoàng Quốc Việt (1902 -1992): nhà cách mạng vô sản tiền bối. Tên thật là Hạ Bá Cang, nguyên quán Đáp Cầu, huyện Võ Giàng, Bắc Ninh. Tham gia phong trào yêu nước từ khi học trường Kỹ nghệ thực hành Hải Phòng (1925). Năm 1929 vào Nam Kỳ gây dựng An Nam Cộng sản đảng, rồi đi dự Hội nghị thống nhất 3 đảng. Bị bắt năm 1930 đày ra Côn Đảo cùng với Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng. Năm 1936 nhờ Mặt trận Bình dân Pháp, ông được trả tự do. Ông từng giữ các chức vụ: Ủy viên Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 -1986), Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ (1937), Uỷ viên Thường vụ Đảng Cộng sản Đông Dương (1941), Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam (1951), Chủ nhiệm Tổng hộ Việt Minh (1941 - 1951), Thường vụ Hội Liên Việt, sau là Mặt trận Liên Việt (1946 - 1955), Ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam (1955 - 1957), Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977 - 1983), sau là Chủ tịch danh dự đến 1992, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam sau là Tổng Công đoàn Việt Nam (1946 -1976), Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (1960 - 1976), Đại biểu Quốc hội từ khoá II đến khóa VII (1955 -1987). Được hưởng Huân chương sao vàng.

 

HOÀNG SÂM

Phố: dài 500m; từ đường Hoàng Quốc Việt qua khu tập thể Học viện Kỹ thuật quân sự đến ngã ba Công ty Điện tử Sao Mai.

Chạy trên đất xã Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm trước. Nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy. Tên mới đặt tháng 2-2003. Trước khi có tên chính thức còn gọi là ngõ 151 đường Hoàng Quốc Việt.

Hoàng Sâm (1915 -1978): Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông tên thật là Trần Văn Kỳ, người làng Lệ Sơn, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Năm 1933 gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản rồi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Những năm 1934 -1936 ông hoạt động ở nước ngoài. 1937 về nước tham gia Tỉnh ủy Cao Bằng, củng cố đường dây liên lạc của Đảng ở biên giới Việt - Trung. 1940 làm Tỉnh ủy viên Cao - Bắc - Lạng, đội trưởng Đội Võ trang Việt Minh ở Pắc Bó. 1944 là đội trưởng đầu tiên rồi đại đội trưởng Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, chỉ huy đánh thắng hai trận Phay Khắt, Nà Ngần. Sau Cách mạng tháng 8-1945, ông lần lượt được giao các chức vụ quan trọng trong quân đội: Ủy viên Quân ủy hội, Chỉ huy trưởng khu II, Chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Tiến, Chỉ huy trưởng khu III, Đại đoàn trưởng 304, phái viên của Bộ Tổng tư lệnh đi các chiến dịch. Hoà bình lập lại, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban quân chính Hải Phòng, rồi là Bí thư quân khu ủy, Tư lệnh quân khu III, chỉ đạo chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Ông còn là đại biểu Quốc hội. Năm 1978, ông hy sinh trong khi đi làm nhiệm vụ.

 

HOÀNG TÍCH TRÍ

Phố: dài 250m; từ phố Đào Duy Anh đến phố Lương Đình Của, trong khu tập thể Kim Liên.

Đất phường Kim Hoa, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Kim Liên, quận Đống Đa.

Tên cũ thành phố đặt năm 1995 là ngõ Đào Duy Anh.

Tên mới đặt tháng 7-1999.

Hoàng Tích Trí (1903 - 1958): quê gốc Phù Lưu, Từ Sơn, Bắc Ninh, sinh tại xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Bác sĩ, nhà vi trùng học - dịch tễ học có nhiều đóng góp vào sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân và xây dựng nền y tế Việt Nam sau Cách mạng. Ông là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá I, Bộ trưởng Y tế đầu tiên trong Chính phủ cách mạng (1946 -1958), Tổng giám đốc Viện Vi trùng học Patxtơ, giảng dạy nhiều năm ở các trường đại học về vi sinh vật học, kí sinh trùng học. Ông là một trong 9 giáo sư đầu tiên của ngành y dược công nhận năm 1955. Tác giả nhiều công trình khoa học ngành y.

 

HOÀNG VĂN THÁI

Phố: dài 980m; từ phố Lê Trọng Tấn đi về phía tây, qua chạc ba với phố Nguyễn Ngọc Nại, cắt ngang phố Vương Thừa Vũ, phố Tô Vĩnh Diện đến phố Khương Trung.

Đất khu vực sân bay Bạch Mai cũ, thuộc làng Khương Trung, huyện Thanh Trì trước.

Nay thuộc phường Khương Trung và Khương Mai quận Thanh Xuân.

Trước khi có lên chính thức, dân tự đặt là đường Đông Tây

2. Tên mới đặt tháng 1-1998.

Hoàng Văn Thái (1915 - 1986): Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, tên thật là Hoàng Văn Xiêm, quê ở xã Nghĩa Tân, huyện Tiền Hải, Thái Bình. Ông tham gia phong trào nông dân Tiền Hải từ 1936, được kết nạp vào Chi bộ Cộng sản đầu tiên của huyện Tiền Hải năm 1938, nhập ngũ 1944. Sau Cách mạng tháng Tám, được giao phụ trách Tổng Tham mưu trưởng Quân đội. Trong kháng chiến ông là Bí thư Quân khu ủy khu 5, Tư lệnh kiêm Chính ủy quân khu 5. Phó Bí thư Trung ương Cục, Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền, trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng trong chiến dịch tổng tiến công giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ông là nhà quân sự tài ba, được nhân dân và quân đội tôn trọng. Năm 2007 được truy tặng Huân chương sao vàng.

 

HOÀNG VĂN THỤ

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Đường Hoàng Văn Thụ (ảnh: Vũ Hưng)

Phố: dài 420m; từ đường Hoàng Diệu tới đường Hùng Vương, dẫn tới cổng chính Phủ Chủ tịch (trước là Phủ Toàn quyền Đông Dương thời Pháp thuộc) ở phía bắc quảng trường Ba Đình.

Đất vùng Cung Cấm thành Thăng Long thời Lý - Trần.

Nay thuộc phường Quán Thánh, quận Ba Đình.

Thời Pháp thuộc gọi đại lộ Cộng Hoà (avenue de la République).

Sau Cách mạng gọi là phố Dân Quyền.

Sau hoà bình đổi thành tên này.

Hoàng Văn Thụ (1906 - 1944): bậc tiền bối cách mạng dân tộc Tày, quê xã Nhân Lý, huyện Văn Uyên, nay là Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, tham gia cách mạng từ năm 1927, đại biểu dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng ở Ma Cao (Trung Quốc) tháng 3-1935, Xứ uỷ Bắc Kỳ (1938), Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ (1939), Thường vụ Trung ương Đảng (1940). Tháng 8-1943 ông bị Pháp bắt tại Hà Nội, kiên cường bất khuất, bị chúng kết án tử hình. Ngày 24-5-1944, chúng xử bắn ông tại trường bắn Tương Mai. Nay ở phường Tân Mai (nơi ông hy sinh) có đài tưởng niệm ông. Còn thi hài ông đã được đưa về nghĩa trang liệt sĩ Mai Dịch. Ông là người cộng sản tài đức song toàn, nhân nghĩa bác ái.

 

HOÈ NHAI

 

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Phố Hoè Nhai (ảnh: Vũ Hưng)

Phố: dài gần 400m; từ đường Yên Phụ đến phố Phan Đình Phùng, cắt ngang qua phố Hàng Than và chạm đầu với phố Quán Thánh.

Đất các thôn Thạch Khối, Hòe Nhai, Yên Thành đều thuộc tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Vốn là dấu tích con đường cũ từ Hoàng thành ra bến Đông Bộ Đầu, hai bên trồng hoè mà thành tên.

Nay thuộc hai phường Nguyễn Trung Trực và Quán Thánh, quận Ba Đình.

Còn chùa Hoè Nhai lại ở số 19 Hàng Than.

Thời Pháp thuộc là hai đường phố:

- Đoạn đầu (đến Hàng Than) là đường 34 (voie 34). Sau Cách mạng là phố Hoè Nhai.

- Đoạn sau là phố Nhà Thương Khách (rue del Hôpital Chinois) vì trong phố có bệnh viện của Hoa kiều (nay là Bệnh viện Y học dân tộc Hà Nội).

Sau Cách mạng: phố Nguyễn Văn Trạch.

Thời tạm chiếm: lấy lại tên Nhà Thương Khách.

Sau hoà bình: nhập hai phố lại thành phố Hoè Nhai.

(Thường gọi nhầm là Hoà Nhai, Hoè Giai).

 

HỒ BÃI CÁT

Ngõ: ở phố Khâm Thiên, cạnh số nhà 1B rẽ vào, thông với ngõ Chợ Khâm Thiên.

Đất thôn Mỹ Đức, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Khâm Thiên, quận Đống Đa.

 

HỒ CÂY SỮA

Ngõ: ở trong ngõ Chợ Khâm Thiên, cạnh số 40 rẽ vào, thông sang ngõ Hồ Dài.

Đất thôn Mỹ Đức, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Khâm Thiên, quận Đống Đa.

 

HỒ DÀI

Ngõ: ở phố Khâm Thiên, cạnh số nhà 27 rẽ vào, một xóm của làng Mỹ Đức cũ, do lấp cái hồ dài mà thành ngõ.

Nay thuộc phường Khâm Thiên, quận Đống Đa.

 

HỒ ĐẮC DI

Phố: dài 500m; từ ngã ba giáp ranh hai phố Nguyễn Lương Bằng - Tây Sơn rẽ vào khu tập thể Nam Đồng, chạy bên cạnh bờ nam hồ Xã Đàn, đến phố Đặng Văn Ngữ, Vốn là đường vào khu lập thể Nam Đồng cũ, mới mở tiếp đoạn sang Trung Tự - Kim Liên. Đất trại Nam Đồng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận trước đây.

Nay thuộc phường Nam Đồng, quận Đống Đa.

Tên mới đặt tháng 1-1999.

Hồ Đắc Di (1900 - 1984): bác sĩ, trí thức yêu nước người Huế. Trước Cách mạng tháng Tám, ông là giáo sư dạy trường Đại học Y khoa. Sau Cách mạng, ông làm Hiệu trưởng trường Y kiêm giám đốc Bệnh viện Đồn Thuỷ. Kháng chiến toàn quốc, ông đưa gia đình lên Việt Bắc theo Chính phủ, Cụ Hồ, bỏ ngoài tai lời dụ dỗ của Pháp. Ông cùng giáo sư Tôn Thất Tùng lập trường Đại học Y của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ở chiến khu, đào tạo cho tổ quốc nhiều cán bộ y tế giỏi. Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa V và 38 năm làm giám đốc trường Đại học Y khoa. Năm 1996 được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh

 

HỒ GIÁM

Ngõ: ở phố Tôn Đức Thắng, cạnh số nhà 25 rẽ vào, đi tới cạnh hồ Giám, còn gọi là Thái Hồ, Hồ Văn, có đường thông sang ngõ Thông Phong, vốn là đất làng Hương Miến, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương.

Nay thuộc phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa.

Tên dân gian là ngõ Hương Miến.

Thời Pháp thuộc gọi đường 215 (voie 215).

Năm 1994 đặt tên ngõ Hồ Giám.

 

HỒ HOÀN KIẾM

Phố: hơn 50m, từ phố Cầu Gỗ đến phố Đinh Tên Hoàng, cạnh Nhà hát Múa rối Thăng Long (xưa là Rạp chiếu bóng - hoà nhạc Philharmonique).

Đất thôn Tả Vọng, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ; do lấp con ngòi thông hồ Thái Cực (Hàng Đào) với hồ Hoàn Kiếm mà thành phố.

Nay thuộc phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm.

Tên dân gian gọi là ngõ Hàng Chè.

Thời Pháp thuộc là phố Philácmôních (rue de la Philhar-monique).

 

HỒ TÙNG MẬU

hanoivanhien cac-duong-pho-ha-noi-theo-van-h-news
Đường Hồ Tùng Mậu (ảnh: Vũ Hưng)

Đường: dài 2km; nối tiếp đường Xuân Thủy ở chỗ giao nhau với đường Nam Thăng Long cũ, nay là ngã tư với đường Phạm Văn Đồng, đến Cầu Diễn. Đây là một đoạn của đường 32 Hà Nội - Sơn Tây, chạy trên đất xã Mai Dịch, huyện Từ Liêm trước, nay thuộc phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy và thị trấn Cầu Diễn, huyện Từ Liêm.

Trước dân tự đặt là phố Mai Dịch và phố Cầu Diễn.

Tên đặt tháng 7-2001.

Hồ Tùng Mậu (1896 - 1951): quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; tên chính là Hồ Bá Cự, tham gia cách mạng từ sớm. Năm 1920 ông xuất dương hoạt động ở Lào, Thái Lan, Trung Quốc. Năm 1923 gia nhập Tâm tâm xã, 1925 tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, viết báo Thanh niên. 1926 vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, khởi nghĩa Quảng Châu (1927), bị bắt ba lần. Cuối năm 1929  ra tù, tham gia vào hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản (1930). Năm 1931, bị bắt giải về nước xử tù chung than, giam ở Tây Nguyên. Tháng 3-1945, ông vượt trại Trà Khê về hoạt động giành chính quyền ở miền Trung. Sau Cách mạng tháng Tám ông đã giữ các chức vụ Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến - hành chính Liên khu IV. Tổng Thanh tra Chính phủ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II. Ông hy sinh trên đường đi công tác ở Thanh Hoá.

 

HỒ XUÂN HƯƠNG

Phố: dài 210m; từ ngã năm phố Bà Triệu - Nguyễn Du đi chéo gãy góc sang phố Quanh Trung, cạnh phía đông hồ Thiền Quang.

Vốn là hồ Thiền Quang và Thái Giao được lấp đi làm phố, khoảng năm 1920.

Nay thuộc phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng.

Thời Pháp thuộc là phố Giabui (rue Jabouille).

Hồ Xuân Hương: được người đời mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”, sinh sống ở phường Khán Xuân, thành Thăng Long vào nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Bà quê gốc ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An; giỏi thơ Nôm và có tài trào lộng, châm biếm, mang phong cách riêng biệt khác người. Ngoài nhiều bài thơ Nôm được truyền tụng rộng rãi trong dân gian, bà còn tập thơ chữ Hán Lưu hương ký.

 

HỘI TIN LÀNH

Phố: dài 72m; từ phố Nguyễn Văn Tố đến phố Ngõ Trạm, chạy phía sau chợ Hàng Da. Khi xây dựng lại chợ năm 1990, phố gần như nhập vào phía sau chợ. Ở đây có nhà thờ và trụ sở của đạo Tin Lành - một phái của Thiên Chúa giáo.

Đất thôn Yên Trung Hạ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương trước.

Nay thuộc phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc là đoạn cuối của phố Phạm Phú Thứ (từ phố Phùng Hưng đến Ngõ Trạm).

Thời tạm chiếm: ngắt ra khỏi phố Phạm Phú Thứ, được đặt tên là phố Hội Tin Lành.

 

HỘI VŨ

Phố: dài gần 260m; có ba nhánh thông ra các phố quán Sứ, Hàng Bông, Tràng Thi, lại còn một Ngách cộc ở nhánh ra phố Quán Sứ. Đất thôn Chiêu Hội và Cổ Vũ Trung (sau nhập lại thành Hội Vũ), tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc đã gọi là ngõ Hội Vũ (ruelle Hội Vũ).

 

HỒNG BÍCH

Ngõ: ở phố Bạch Mai, cạnh số nhà 37 rẽ vào. Tên một trại cũ trên đất phường Hồng Mai, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng.

 

HỒNG HÀ

Đường: dài 3,4km; chạy phía ngoài đê cứng mới xây dựng xong đầu thế kỷ XXI, từ cửa khẩu An Dương đến dốc Vạn Kiếp song song với đường Yên Phụ (quận Ba Đình), đường Trần Nhật Duật, Trần quang Khải, Trần Khánh Dư (quận Hoàn Kiếm). Đất các phường Thủy Cơ, Cơ Xá cũ ngoài bãi, nay thuộc phường Phúc Xá, quận Ba Đình, các phường Phúc Tân, Chương Dương, quận Hoàn Kiếm. Tên mới đặt tháng 2-2003.

Hồng Hà (sông Hồng) là tên con sông lớn chảy qua giữa lòng Hà Nội ngày nay, với độ dài khoảng 37km, làm ranh giới giữa huyện Đông Anh, quận Long Biên, huyện Gia Lâm ở phía bắc với huyện Từ Liêm, các quận Tây Hồ, Ba Đình, quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai và huyện Thanh Trì ở phía nam.

Sông Hồng dài khoảng 1160km, bắt nguồn từ dãy Ngụy Sơn cao 1776m ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, vào nước ta ở Hồ Khẩu, thị xã Lào Cai, chạy qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định rồi chảy ra vịnh Bắc Bộ ở cửa Ba Lạt với khoảng 559km.

Sông có nhiều tên, như đoạn ngã ba Hạc còn gọi sông Thao, sông Lô, đoạn qua Hà Nội còn gọi là sông Cái, Nhĩ Hà, Nhị Hà, sông Bồ Đề, bây giờ thống nhất gọi là sông Hồng.

 

HỒNG MAI

Phố: dài 600m; từ phố Bạch Mai vào khu tập thể Mai Hương, đến trụ sở Ủy ban nhân dân phường Quỳnh Lôi. Nay thuộc hai phường Bạch Mai và Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng.

Trước là ngõ Mai Hương (mới).

Tên phố đặt tháng 1-1999.

Hồng Mai là tên cổ của một phường ở kinh thành Thăng Long trước thế kỷ XIX, thuộc tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ, đến giữa thế kỷ XIX đổi là phường Bạch Mai, thuộc tổng Kim Liên, sau thành phố Bạch Mai. Đây thuộc vùng thái ấp Cổ Mai của Trần Khát Chân thời Trần.

 

HỒNG PHÚC

Phố: dài gần 210m, từ phố Hoè Nhai đến phố Hàng Đậu cắt ngang qua phố Nguyễn Trung Trực.

Đất thôn Hoè Nhai, tổng Thượng, huyện Vĩnh Thuận cũ.

Hồng Phúc là tên của một ngôi chùa cổ ở Hoè Nhai (số 19 Hàng Than).

Nay thuộc phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba đình.

Thời Pháp thuộc đã có tên phố Hồng Phúc (rue de Hồng Phúc).

 

HUẾ

Phố: dài l,2km; từ ngã tư phố Hàm Long - Hàng Bài đến đầu đường Đại Cồ Việt- Ô Cầu Dền, cắt ngang qua các ngã tư phố Nguyễn Du - Lê Văn Hưu, Trần Nhân Tông - Trần Xuân Soạn, Tuệ Tĩnh - Hoà Mã, Tô Hiến Thành - Nguyễn Công Trứ. Huế là tên cố đô nước ta thời Nguyễn.

Đất các phường, thôn: Phục Cổ, Giáo Phường, Đông Hạ, Yên Thọ thuộc tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Ô Cầu Dền trước còn có các tên là Ô Yên Ninh; Yên Thọ, Thịnh Yên. Đây là cửa ô phía nam của con đường thiên lý vào thành Thăng Long xưa. Đình Giáo Phường thờ tổ nghề ca hát ở số 83B. Giữa phố có chợ Hôm - Đức Viên.

Nay thuộc các phường Hàng Bài (Hoàn Kiếm), Ngô Thì Nhậm, phố Huế (quận Hai Bà Trưng).

Tên dân gian xưa gọi là dốc Hàng Gà Chợ Hôm (đoạn từ Nguyễn Du đến Trần Nhân Tông).

Thời Pháp thuộc gọi là đường Huế (route de Huế).

Sau Nhật đảo chính Pháp (3-1945), gọi là phố Duy Tân.

Sau hoà bình lấy lại tên cũ phố Huế.

Ngõ: dài 100m; cùng tên, từ phố Ngô Thì Nhậm thông sang phố Huế, nay thuộc phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng. Số 30 là đình, đền Đông Hạ di tích đã xếp hạng năm 2000.

Thời Pháp thuộc là phố Cai Giác (rue Sergent Giác).

Sau Cách mạng phố Duy Tân.

Sau hoà bình ngõ Huế.

Trong ngõ có hai ngách, trước có tên là ngõ Sỏi và ngõ Đất.

 

HÙNG VƯƠNG

Đường: dài gần l,2km; từ ngã tư Quán Thánh - đường Thanh Niên bên bờ hồ Tây đến phố Nguyễn Thái Học. Con đường lớn này chạy ngang qua cổng Phủ Chủ tịch, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình, cắt qua các phố Phan Đình Phùng, Chùa Một Cột, Lê Hồng Phong, Trần Phú. Hai bên trồng cây chò đem từ đất Tổ Phong Châu về.

Đây là mặt thành phía tây của thành Thăng Long thời Nguyễn.

Nay thuộc các phường Ngọc Hà, Quán Thánh, Điện Biên, quận Ba Đình. Khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được xếp hạng năm 1975.

Thời Pháp thuộc là đại lộ Bờrie đờ Lixlơ (avenue Brière de I’ Isle). Sau cách mạng đặt tên đường Hùng Vương.

Hùng Vương: tên chung chỉ thời đại dựng nước của nước ta cách ngày nay khoảng 4000 năm, kéo dài hàng nghìn năm, lập nên nền văn minh Sông Hồng của các tộc Lạc Việt nước Văn Lang. Truyền thuyết nói có 18 triều đại cùng lấy tên là Hùng Vương. Đền thờ Tổ Hùng Vương ở xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, mở hội quốc lễ Giỗ Tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm.

 

HUY VĂN

Ngõ: ở phố Tôn Đức Thắng (cạnh số nhà 147 rẽ vào). Trong ngõ có chùa Huy Văn và điện Dục Khánh, nơi bà phi tần Ngô Thị Ngọc Giao lánh nạn và sinh ra hoàng tử Tư Thành sau là vua Lê Thánh Tông, hai di tích này đã được xếp hạng năm 1986.

Đất thôn Huy Văn, tổng Hữu Nghiêm, huyên Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Văn Chương, quận Đống Đa.

Tên ngõ mới đặt sau hoà bình 1954.

 

HUYỆN

Ngõ: dài 160m; từ phố Lý Quốc Sư đến phố Phủ Doãn, và một nhánh thông sang phố Ấu Triệu: một ngách ra ngõ Thọ Xương nên được gọi Ngõ Huyện 1 - 2. Vốn là con đường dẫn tới cổng huyện sở Thọ Xương (từ giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX), đất thôn Tiên Thị, tổng Tiền Túc của huyện này.

Nay thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm.

Thời Pháp thuộc đã gọi Ngõ Huyện (ruelle Ngõ Huyện).

Trong dân gian: Ngõ Huyện là từ chung chỉ cả ngõ Thọ Xương.

 

HUỲNH THÚC KHÁNG

Phố: dài 735m; từ phố Láng Hạ đến phố Nguyễn Chí Thanh cắt chéo qua đường Nguyên Hồng, chạy qua trước mặt Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội và bờ nam hồ Thành Công.

Đất phường Nhược Công và trại Yên Lãng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ.

Nay thuộc phường Láng Hạ, quận Đống Đa và phường Thành Công, quận Ba Đình.

Tên phố mới đặt tháng 1-1998.

Huỳnh Thúc Kháng (1875 - 1947): nhà chí sĩ, nhà văn, quê Thạnh Bình, huyện Thăng Bình, (nay là Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam, hiệu Minh Viên. Đỗ hoàng giáp (1904), không ra làm quan, đứng đầu phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ đầu thế kỷ XX. Phong trào chống sưu thuế (1908) nổ ra, ông bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo 13 năm. 1925 - 1928: Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, 1927 - 1943: làm báo Tiếng dân. Sau Cách mạng tháng Tám, ông làm Bộ trưởng Nội vụ, quyền Chủ tịch nước khi Bác Hồ sang Pháp, sáng lập và là Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Mặt trận Liên Việt). Kháng chiến chống Pháp, ông được đặc phái vào Liên khu V và mất tại Quảng Ngãi. Tác giả các sách Thi tù tùng thoại, Thi tù thảo, Trung kỳ cựu sưu ký.

 

HUỲNH VĂN NGHỆ

Phố: dài 700m; từ đường Nguyễn Văn Linh (cạnh số nhà 449) vào giữa khu đô thị mới Sài Đồng, quận Long Biên. Đặt tên tháng 6-2008.

Huỳnh Văn Nghệ  (194 - 1977): bí danh Hoàng Hồ. Ông là chiến sĩ - nhà thơ quê Tân Uyên, Bình Dương, tham gia quân đội trong kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Đ, Nam Bộ, làm Phó tư lệnh rồi Tư lệnh quân khu VII, được phong quân hàm Thiếu tướng. Hai câu thơ của ông trong bài Nhớ Bắc viết ở chiến khu năm 1946 - 1948 được trích dẫn trong nhiều bài viết ở nhiều nơi, nhưng đôi lúc khác nhau. Nguyên văn của tác giả là:

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long

Năm 1953, Trung ương điều ông ra Bắc, lần tượt được giao giữ các chức Cục phó Cục Quân huấn Bộ Tổng tham mưu, chuyển ngành sang lâm nghiệp là Tổng cục phó Tổng cục Lâm nghiệp. 1965 trở lại miền Nam ông làm Phó bí thư đảng ủy Trung ương cục miền Nam, Phó ban Kinh tài, Trưởng ban Lâm nghiệp Trung ương cục miền Nam, Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp.

 

HƯNG LONG

Ngõ: ở phố Nguyễn Lương Bằng (cạnh số nhà 221 rẽ vào). Đất trại Nam Đồng, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thợ Xương cũ. Nay thuộc phường Nam Đồng, quận Đống Đa.

 

HƯƠNG VIÊN

Phố: dài gần 600m; từ cuối dốc Thọ Lão (Phố Lò Đúc rẽ vào) chạy vòng quanh hồ Đồng Nhân, trước cổng đền Hai Bà Trưng - di tích lịch sử xếp hạng năm 1962. Hội đền Hai Bà Trưng mở ngày 6 tháng giêng hằng năm. Bên cạnh đền có chùa cổ Viên Minh.

Hương Viên: là tên hợp nhất các thôn nhỏ Đức Bác, Hương Thái Hoa Viên, Hành Môn, Nhân Chiêu, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

Nay thuộc phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng.

Tên mới đặt năm 1991.

 

Theo Từ điển đường phố Hà Nội, Giang Quân, NXB Hà Nội, 2009, tr 83-140

 

Bình luận